Hiển thị các bài đăng có nhãn DIỄN ĐÀN. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn DIỄN ĐÀN. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 24 tháng 9, 2019

Trung Quốc “phá giá” tiền là biện pháp nhằm đối phó với việc Tổng Thống Hoa Kỳ Donald Trump áp thuế 10% lên lượng hàng nhập cảng còn lại của Trung Quốc trị giá $300 tỷ, bắt đầu từ ngày 1 Tháng Chín.

Hiện tại hơn 7 Nhân Dân Tệ mới đổi được 1 đô la Mỹ, tuy nhiên Trung Quốc chưa muốn dừng lại ở đó.

Báo The New York Time hôm 7 Tháng Tám dẫn nguồn tin từ Bắc Kinh cho biết, Trung Quốc có thể sẽ tiếp tục phá giá đồng Nhân Dân Tệ, hành động được cho là sẽ một lần nữa làm leo thang cuộc chiến thương mại với Hoa Kỳ.

Thứ Tư, 5 tháng 4, 2017


Dương Thiện Tâm

Torana là tên của một thiền viện Vipassana nằm trong một khu rừng rộng 140 mẫu đất, cách thành phố Toronto khoảng 100 cây số về phía Bắc. Toronto cũng còn là thủ phủ của tỉnh bang Ontario, Canada. Tên đúng của thiền viện là Dhamma Torana (Auspicious Gateway of Dhamma).

Thiền Quán từ Hơi Thở tới Cảm Giác

Khoá thiền Vipassana 10 ngày của tỉnh bang Ontario lần đầu tiên đã được tổ chức vào năm 1980. Sau đó thỉnh thoảng những khoá nầy cũng được tổ chức tại những địa điểm khác nhau ở Nam Ontario trong suốt hai thập niên 80 và 90. Vào năm 2001 Ontario Vipassana Foundation được thành lập và họ đã mua được khu cắm trại của Hướng Đạo để sửa chữa lại và xây cất thêm để trở thành Dhamma Torana. Mùa Thu năm 2003 Torana chính thức đi vào hoạt động.

Bây giờ đang là mùa Thu ở Bắc Mỹ. Tôi đã tham dự khoá thiền 10 ngày tại đây như là một người làm công quả (server). Khoá nầy bắt đầu vào ngày Thứ Tư 5 Tây Tháng Mười và kết thúc vào ngày Chúa Nhật 16 Tháng Mười năm 2016 do thầy S. N. Goenka giảng dạy bằng Anh ngữ qua CD và được thông dịch sang Việt ngữ, cũng qua CD. Giọng Bắc trước 1975 của anh V. ở Montréal dịch nghe rất hay. Montréal thuộc tỉnh bang Québec.

Tôi được biết đây là khoá Việt Anh thứ hai được tổ chức tại Torana. Khoá nầy do thầy Thảo và cô Lan phụ trách. Thầy cô là hai phụ tá trong những người phụ tá (Assistant Teachers) của thầy Goenka. Trên văn bản thì những người phụ trách một khoá thiền Vipassana là những phụ tá giảng dạy. Nhưng tất cả mọi người trong khoá đều gọi họ là thầy. Những thầy mà tôi đã học qua đều là cư sĩ.

Hàng năm có nhiều khoá thiền 10 ngày Vipassana được tổ chức tại Torana. Tôi thường theo học khoá mùa Thu. Được đi trên những con đường mòn trong rừng vào mùa nầy với thời tiết mát mẻ, phong cảnh thiên nhiên rực rỡ màu sắc của lá Thu cùng với bầu không khí thanh tịnh nơi đây thì thật là lý tưởng đối với tôi. Tôi cũng thường theo học những khoá có trăng. Sống trong một chung cư tại thành phố nên tôi ít có dịp được ngắm trăng. Đêm Torana thật tĩnh mịch. Ánh trăng trong đêm 13, 14 và rằm chiếu chênh chếch trên những ngọn cây phong (maples) mùa Thu thật huyền ảo.

Ngày đầu tiên của khoá thiền Vipassana được kể là ngày zéro! Buổi sáng dành để ổn định nơi ăn ở, hành lý và thủ tục ghi danh. Buổi chiều nhập học, nhà bếp có dọn một buổi ăn nhẹ cho thiền sinh. Có hai phòng ăn riêng biệt. Một phòng ăn dành cho nữ và một phòng cho nam. Trong khi chờ đợi dọn ra buổi cơm chiều thì những người làm công quả như tôi tập trung tại phòng ăn trong bếp để nghe huấn từ của thầy Goenka về bổn phận và trách nhiệm khi tình nguyện làm nhiệm vụ cho khoá thiền Vipassana. Bài nầy dài khoảng một tiếng và khác với những bài mà tôi đã có dịp nghe trước đây.

Sau buổi ăn chiều, thiền sinh được tập trung lại để nghe hướng dẫn tổng quát về khoá thiền và nội qui. Đây cũng là một cơ hội chót để thiền sinh quyết định nên tiếp tục ở lại hay nên ra về. Một trong những nội qui là thiền sinh không được nói chuyện với những thiền sinh khác, kể cả ra dấu bằng tay hay bằng mắt. Thiền sinh phải giữ sự im lặng, bắt đầu từ 8 giờ tối ngày zéro đến 10 giờ sáng ngày thứ 10. Sự im lặng nầy được gọi là sự im lặng thanh tịnh (noble silence). Tóm lại, đối với thiền sinh thì tất cả thời gian là dành để học và thực hành thiền Vipassana.

Đúng 8 giờ tối, tất cả thiền sinh và những người làm công quả chúng tôi đến thiền đường để được gọi tên vào chỗ ngồi của mình trong đó. Mỗi chỗ đều có một tấm nệm vuông, tôi đo bằng mắt mỗi cạnh khoảng 8 tấc và dầy khoảng 5 phân. Trên đó đã có sẵn một cái gối hình chữ nhật, chiều dài khoảng 4 tấc, ngang 2 tấc rưỡi và dầy 8 phân. Nệm và gối đều được bao lại bằng áo màu xanh dương đậm. Thiền sinh phải ngồi chỗ đã được chỉ định. Danh sách thiền sinh được ghi trên sơ đồ do những người quản lý khoá học (course managers) giữ để họ có thể điểm danh trong âm thầm vào những giờ ngồi thiền chung. Nếu thiền sinh vắng mặt, thường do ngủ quên, thì người quản lý sẽ đến phòng ngủ để tìm, căn cứ trên sơ đồ chỗ ngồi nầy.

Nếu những ai vì lý do sức khoẻ hay là chưa quen cách ngồi xếp bằng thì có thể cho người quản lý hay để ngồi trên ghế dựa có bốn chân. Thường thì những ghế nầy được xếp sát tường hay phía sau của hàng thiền sinh cuối cùng. Xếp ghế như vậy để không che tầm mắt của thầy cô ngồi trên bục khi nhìn xuống thiền sinh và cũng để tránh cho thiền sinh ngồi dưới nệm phải nhìn thấy cái ghế trước mặt mình.

Tư thế ngồi thiền trên sàn thì không bắt buộc phải theo một tư thế nhất định nào. Thiền sinh tự chọn lấy thế ngồi thích hợp cho mình. Điều quan trọng là phải giữ cho cổ và lưng được thẳng. Hai mắt nhắm lại. Hai cánh tay xuôi theo thân người còn hai bàn tay thì xếp lại sao cho thoải mái và đặt trên bàn chân. Thiền sinh có thể cho bàn tay nầy đặt trên bàn tay kia, cả hai lòng bàn tay úp xuống hay ngửa lên đều được. Hai bàn tay cũng có thể được đặt trên đùi hay trên đầu gối và hai lòng bàn tay úp xuống hay ngửa lên đều được. Kể cả “bắt ấn” (ngón tay cái chạm nhẹ vào ngón trỏ). Thiền sinh có thể ngồi xếp bằng, bán già hay kiết già. Thế kiết già còn gọi là hoa sen, cả hai bàn chân được đặt trên hai đùi và lòng bàn chân ngửa của chân nầy được đặt trên đùi chân kia. Tôi chỉ ngồi được thế bán già.

Cũng có thiền sinh ngồi theo thế cỡi ngựa trên 4 cái gối. Đây là tư thế mà tôi đã ngồi trong mấy ngày đầu khi theo học Vipassana lần đầu tiên. Trong những ngày đó tôi đã tập ngồi xếp bằng trong khi nghe thuyết Pháp. Đến giữa khoá học thì quen và ngồi được luôn khi thiền.

Hằng ngày có ba tiếng ngồi thiền chung tại thiền đường; buổi sáng từ 8 giờ tới 9 giờ, trưa từ 2 giờ rưỡi tới 3 giờ rưỡi và buổi tối thì từ 6 giờ đến 7 giờ.

Sau khi tất cả mọi người lần lượt ngồi vào vị trí đã được chỉ định của mình, từ phía cửa bên hông thiền đường cả hai thầy cô bước vào thiền đường. Khoá thiền Việt Anh mùa Thu 2016 chính thức bắt đầu vào lúc nầy.

Mở đầu là tiếng tụng (chanting) của Goenkaji, tên gọi theo cách gọi của người Ấn Độ để tỏ lòng tôn kính thầy Goenka. Những lời tụng bằng tiếng Pali nầy chỉ là lời dạy của Đức Phật Thích Ca, được trích ra từ các kinh được ghi chép lại. Mục đích là để tạo những sức rung (vibration) thanh tịnh cho thiền đường.

Kế đó tất cả mọi người được yêu cầu lập lại lời xin nương tựa vào tam bảo (Phật, Pháp, Tăng - Buddha, Dhamma, Sangha) và giữ ngũ giới: không sát sanh, không trộm cắp, không tà hạnh, không nói dối và không dùng những chất gây say. Riêng những thiền sinh cũ đã từng học qua một khoá thiền Vipassana 10 ngày giống như khoá đang theo học thì cần phải giữ thêm 3 giới nữa: không ăn sau 12 giờ trưa, không trang điểm và không nằm giường cao.

Tiếp theo đó tất cả chúng tôi được yêu cầu lập lại lời thỉnh cầu để được học Anapana (quán hơi thở). Tất cả những lời lập lại nầy đều bằng tiếng Pali.

Sau cùng tất cả đều được học Anapana bằng cách theo dõi hơi thở ngay lỗ mũi mình mỗi khi hít vào hay thở ra. Thở một cách tự nhiên và bình thường. Đây không phải là bài tập thở mà là “quán” tức là nhận biết hơi thở. Nếu hơi thở ra vào bên trái thì nhận biết rằng hơi thở lúc nầy ra vào bên lỗ mũi trái. Nếu hơi thở ra vào bên phải thì nhận biết rằng hơi thở lúc nầy ra vào bên lỗ mũi phải. Còn nếu hơi thở ra vào cả hai bên thì nhận biết rằng hơi thở lúc nầy ra vào cả hai lỗ mũi. Nếu hơi thở sâu thì nhận biết rằng hơi thở lúc nầy sâu và nếu hơi thở cạn thì nhận biết rằng hơi thở cạn. Thật là đơn giản và dễ dàng phải không quí vị? Nhưng để theo dõi hơi thở liên tục hàng giờ thì cần phải thực tập. Tâm luôn có khuynh hướng hoặc nghĩ về những chuyện đã xảy ra trong quá khứ hoặc nghĩ về những chuyện chưa xảy đến trong tương lai mà quên làm điều hiện tại, ngay thời khắc nầy. Đó là theo dõi hơi thở.

Sang ngày thứ nhất và ngày thứ hai thì vẫn tiếp tục thực hành Anapana. Thầy Goenka cũng có nhắc là nếu không cảm nhận được hơi thở khi nó trở nên quá nhẹ (vi tế), thì thiền sinh có thể tạo ra vài hơi thở hơi mạnh một cách cố ý. Nhưng sau khi cảm nhận được hơi thở trở lại rồi thì cần phải theo dõi hơi thở tự nhiên của cơ thể một cách bình thường. Thiền sinh cũng được hướng dẫn là cần phải nhận biết được sự phớt chạm của hơi thở vào những nơi mà nó tiếp xúc. Có thể bên trong mũi hay ở ngoài mũi. Cũng có thể là ở cửa mũi hay ở mép. Nếu tâm của thiền sinh đủ bén nhạy thì họ cũng nhận biết một sự thật là nhiệt độ của hơi thở ra ấm hơn một chút so với nhiệt độ của hơi thở khi hít vào. Đây là điều tự nhiên, nhưng thực sự cảm nhận được một cách rõ ràng là điều thiền sinh đang thực tập để đạt đến.

Tối ngày thứ hai sau giờ nghe thuyết Pháp (Dhamma Discourse), thiền sinh được hướng dẫn thêm là trong lúc thực hành Anapana, khi quan sát hơi thở ra vào thì có một phản ứng sinh học, hoá học, hay điện từ nào đó xẩy ra ở khu vực mũi. Những phản ứng sinh học, hoá học, hay điện từ sinh ra nầy không có một chút gì liên quan đến hơi thở cả. Đây là một cảm giác (sensation). Cũng còn gọi là cảm thọ, theo thiển ý tôi. Một khi cảm nhận được là đang có một cảm giác nào đó thì thiền sinh cần tập trung theo dõi cảm giác, nhận biết chúng là cảm giác gì. Nếu không biết tên gọi cũng được. Cảm giác không thể chọn lựa được, tự nó sẽ xẩy đến. Điều quan trọng là chỉ ghi nhận những cảm giác đó thôi mà không phản ứng lại chúng. Thí dụ như khi cảm nhận được cảm giác ngứa thì biết là ngứa thôi, chớ không đưa tay lên gãi. Hành động gãi là phản ứng lại cảm giác ngứa. Cần phải tránh. Chỉ quan sát cảm giác mà thôi. Khoảnh khắc tới đây cảm giác ngứa nầy rồi cũng sẽ qua đi. Không cách gì tồn tại mãi mãi được.

Bắt đầu đêm nay và ngày thứ ba, thiền sinh tập trung quan sát cảm giác thay vì hơi thở ở vùng mũi. Chấp nhận cảm giác và quan sát chúng. Không phản ứng lại với bất cứ một cảm giác nào xẩy đến. Cảm giác luôn có mặt ở mọi nơi trên thân thể. Nếu thiền sinh không cảm nhận được cảm giác ở vùng mũi vì chúng quá nhẹ mà tâm thì đang được huấn luyện để trở nên bén nhạy hơn thì thiền sinh quan sát hơi thở ra vào trở lại. Khi có cảm giác thì quan sát chúng và nếu không có cảm giác thì chuyển qua quan sát hơi thở. Đặt nặng phần quan sát cảm giác hơn phần quan sát hơi thở. Nếu cảm nhận được nhiều cảm giác cùng một lúc ở vùng mũi nầy thì thầy Goenka dặn rằng nên tập trung vào cảm giác nhẹ nhất. Có như thế thì tâm mới trở nên bén nhạy được.

Trong lúc tâm đang tập trung quan sát cảm giác xẩy ra ở vùng mũi, nếu có một cảm giác nào đó mạnh hơn, cũng đồng nghĩa với thô hơn cũng đang xẩy ra ở một vùng khác trên thân thể thì thiền sinh không hướng sự tập trung qua nơi đó. Chỉ tập trung quan sát cảm giác xẩy ra ở vùng mũi mà thôi. Có thực hành như thế thì tâm của thiền sinh mới trở nên bén nhạy hơn vì cảm nhận được những cảm giác nhẹ khó hơn là cảm nhận được những cảm giác thô.

Càng ngày càng thu hẹp diện tích quan sát ở quanh vùng mũi. Từ một vùng quan sát hình tam giác thu hẹp diện tích xuống còn một điểm lớn chỉ bằng đầu ngón tay. Tam giác có đỉnh trên sống mũi, hai đỉnh còn lại nằm ở mép. Nay chỉ một điểm ở trên nhân trung, ngay điểm tiếp xúc với mũi. Nhân trung là rãnh ở giữa mũi và miệng. Quan sát những cảm giác ở điểm nhỏ nầy và không phản ứng lại. Tâm đang được huấn luyện để càng ngày tâm càng trở nên bén nhạy hơn. Từ những cảm nhận thô, dễ nhận thấy đến những cảm nhận được những cảm giác thanh nhẹ, khó nhận thấy.

Thiền sinh đang thực hành giữ giới ở Torana, đây là giai đoạn thứ nhất. Liên tục quan sát hơi thở ra vào hay quan sát cảm giác mà không phản ứng lại, từ khoảnh khắc nầy sang khoảnh khắc khác sẽ đưa thiền sinh tới chánh định. Đây là giai đoạn thứ hai. Thiền sinh được hướng dẫn từ từ để sang giai đoạn thứ ba, tuệ giác.

Một phần ba thời gian đầu của 10 ngày thiền Vipassana nầy là dành cho Anapana và hai phần ba thời gian còn lại là dành cho Vipassana. Cách chia 1/3 và 2/3 thời gian nầy cũng được áp dụng cho những khoá có thời gian ngắn hơn 10 ngày hay dài hơn 10 ngày. Do đó ngày thứ tư là ngày bắt đầu học Vipassana cho khoá 10 ngày. Ngày nầy rất quan trọng. Giờ thiền chung buổi trưa ngày Vipassana được dời lại sớm hơn nửa tiếng, tức là từ 2 giờ đến 3 giờ và ngay sau 15 phút nghỉ giải lao thì vào buổi học Vipassana liền. Buổi học dài một tiếng rưỡi. Trong suốt khoảng thời gian học Vipassana trưa hôm nay thì thầy Goenka yêu cầu tất cả phải ở lại trong thiền đường.

Cũng giống như lời thỉnh cầu để xin được học Anapana vào ngày zéro, thì giờ đây trước khi được truyền dạy Vipassana thiền sinh cũng thỉnh cầu để xin được học Vipassana. Tất cả thiền sinh và những người làm công quả được yêu cầu lập lại lời thỉnh cầu, cũng bằng tiếng Pali.

Thay vì theo dõi cảm giác trên một điểm ở nhân trung như thời gian vừa qua thì bây giờ tập trung theo dõi cảm giác trên toàn thân. Bắt đầu từ đỉnh đầu. Tập trung sự chú ý vào đó để xem nơi đỉnh đầu có cảm giác gì hay không, ngay thời điểm nầy. Tâm sẽ cảm nhận được một cảm giác nào đó ở đây. Rồi từ đó cứ thế mà đưa sự chú ý của tâm đến một vùng khác trên cơ thể để nhận biết những cảm giác ở vùng đó. Diện tích quan sát một vùng rộng khoảng 5 đến 8 phân. Nếu tâm không cảm nhận được cảm giác thì quan sát một vùng lớn hơn. Như cả gương mặt, cả vùng ngực. Rồi sau đó từ từ thu hẹp diện tích quan sát trở lại. Cảm giác có thể như “thấy” kiến bò, có thể là những cảm giác phập phồng, ngứa ngáy. Có thể là những cảm giác khó chịu, dễ chịu, tê, nóng, lạnh, đổ mồ hôi... hay cũng có thể là những cảm giác không tên, không biết gọi là gì.

Chúng tôi được hướng dẫn là chỉ quan sát chúng thôi mà không phản ứng lại. Cũng không đồng hoá mình với cảm giác đó. Những cảm giác nầy luôn thay đổi từng giây phút.

Đa số độc giả có lẽ đã nghe qua chữ vô thường. Thực hành Vipassana quí vị sẽ thật sự nhận thấy được sự vô thường ở ngay trên thân thể mình. Sự biến đổi, sinh diệt liên tục của tế bào cùng với những phản ứng hoá học trong cơ thể tạo ra những cảm giác. Quan sát những cảm giác nầy. Không ưa thích chúng khi cảm nhận được những cảm giác dễ chịu. Không ghét bỏ chúng khi cảm nhận được những cảm giác khó chịu. Luôn giữ tâm an bình, thanh thản. Sự hiểu biết về luật vô thường nầy là qua kinh nghiệm của từng thiền sinh chớ không phải là sự hiểu biết qua sách vở.

Phương pháp giảng dạy của thầy Goenka rất khoa học. Tôi có thể nói rằng ai cũng học được. Từ ngày thứ tư cho đến hết khoá, mỗi ngày tất cả chúng tôi được học thêm một chút. Tất cả chỉ là sự chú tâm quan sát cảm giác ngay trên chính cơ thể của mình.

Quan sát cảm giác khắp thân thể bằng cách hướng tâm mình đến từng vùng một. Trước hết hãy chọn lấy một con đường thích hợp và hướng tâm theo đường đã chọn để đi đến từng vùng và quan sát cảm giác ở vùng đó. Chọn một thứ tự đường đi sao dễ nhớ để tránh trường hợp bỏ sót một vùng nào đó. Liên tục di chuyển tâm mình. Từ trên đỉnh đầu xuống dưới ngón chân, rồi theo chiều ngược lại. Từ bề mặt ngoài của da vào đến khắp các nội tạng bên trong cơ thể, rồi ngược lại.

Thời gian để quan sát một vòng trung bình khoảng mười phút, nếu thiền sinh cảm nhận được cảm giác ở khắp mọi nơi trên thân thể. Quan trọng là không bỏ sót một vùng nào hết và không phản ứng lại với những cảm giác cảm nhận được. Nếu không cảm nhận được cảm giác ở một nơi nào đó trên cơ thể thì có thể ngừng lại ở nơi đó khoảng một phút, rồi di chuyển sự chú tâm vào vùng kế đó. Chúng tôi được dạy rằng không cảm nhận được cảm giác không có nghĩa là nơi đó không có cảm giác nhưng vì tâm chưa đủ bén nhạy để nhận biết. Lần quan sát tới hay là lần quan sát tới nữa thì sẽ nhận được một cảm giác nào đó ở vùng mù mờ nầy. Bất cứ nơi nào thân thể cũng đều có cảm giác. Không cảm giác nầy thì cũng cảm giác nọ, hai mươi bốn giờ một ngày trong lúc thức cũng như lúc ngủ vì sự sinh diệt liên tục xảy ra.


Những gì tôi vừa kể chỉ là một phần nhỏ của sự hướng dẫn cách thực hành Vipassana. Mục đích chỉ để ghi lại những gì tôi đã học được trong thời gian ở Torana. Để học Vipassana chân truyền từ thầy Goenka thì không gì bằng đến một thiền viện. Những thiền viện Vipassana như Dhamma Torana nầy có mặt khắp nơi trên thế giới và được dịch ra khoảng 80 thứ tiếng. Tất cả thiền viện Vipassana nầy đều có cùng thời khoá biểu và nội qui. Sự giảng dạy cùng những bài thuyết Pháp bằng CD hay băng cassette đều do chính Goenkaji giảng. Còn người thầy phụ trách khoá học có nhiệm vụ chính là trông chừng thiền sinh trong thiền đường và trả lời các câu hỏi hay thắc mắc có liên quan đến những lời hướng dẫn của thầy Goenka. Nếu có câu hỏi thì thiền sinh hay người làm công quả có thể ghi tên xin gặp riêng thầy trong khoảng thời gian từ 12 giờ đến 1 giờ trưa. Ngoài ra thì họ cũng có thể hỏi thầy sau giờ hướng dẫn cuối ngày, vào lúc 9 giờ đêm.

Trong mười ngày thực hành Vipassana, thiền sinh ngồi thiền mỗi ngày khoảng mười tiếng. Tiếng kẻng báo thức đầu tiên trong ngày vào lúc 4 giờ sáng. Nửa tiếng sau, 4 giờ rưỡi bắt đầu giờ thiền trong ngày. Có thể ngồi ở tại phòng mình hay trong thiền đường đến 6 giờ rưỡi. Theo tôi thì khoảng thời gian nầy rất quan trọng vì hàng ngày vào giờ nầy thầy Goenka tụng khoảng nửa tiếng tới 45 phút để tạo bầu không khí thanh tịnh trong thiền đường cho cả trọn ngày hôm đó. Tôi thường đến thiền đường trong khoảng thời gian nầy nhưng chọn ngồi trong thất (cell). Cứ cách ngày thì tôi rời thất lúc 5 giờ hai mươi để vào bếp phụ với những người làm công quả khác chuẩn bị bữa ăn sáng cho thiền viện vào lúc 6 giờ rưỡi.
Kỳ tới: Ba tầng Sankharas, Nghệ Thuật Sống và Chết

Dương Thiện Tâm

Torana là tên của một thiền viện Vipassana nằm trong một khu rừng rộng 140 mẫu đất, cách thành phố Toronto khoảng 100 cây số về phía Bắc. Toronto cũng còn là thủ phủ của tỉnh bang Ontario, Canada. Tên đúng của thiền viện là Dhamma Torana (Auspicious Gateway of Dhamma).

Thiền Quán từ Hơi Thở tới Cảm Giác

Khoá thiền Vipassana 10 ngày của tỉnh bang Ontario lần đầu tiên đã được tổ chức vào năm 1980. Sau đó thỉnh thoảng những khoá nầy cũng được tổ chức tại những địa điểm khác nhau ở Nam Ontario trong suốt hai thập niên 80 và 90. Vào năm 2001 Ontario Vipassana Foundation được thành lập và họ đã mua được khu cắm trại của Hướng Đạo để sửa chữa lại và xây cất thêm để trở thành Dhamma Torana. Mùa Thu năm 2003 Torana chính thức đi vào hoạt động.

Bây giờ đang là mùa Thu ở Bắc Mỹ. Tôi đã tham dự khoá thiền 10 ngày tại đây như là một người làm công quả (server). Khoá nầy bắt đầu vào ngày Thứ Tư 5 Tây Tháng Mười và kết thúc vào ngày Chúa Nhật 16 Tháng Mười năm 2016 do thầy S. N. Goenka giảng dạy bằng Anh ngữ qua CD và được thông dịch sang Việt ngữ, cũng qua CD. Giọng Bắc trước 1975 của anh V. ở Montréal dịch nghe rất hay. Montréal thuộc tỉnh bang Québec.

Tôi được biết đây là khoá Việt Anh thứ hai được tổ chức tại Torana. Khoá nầy do thầy Thảo và cô Lan phụ trách. Thầy cô là hai phụ tá trong những người phụ tá (Assistant Teachers) của thầy Goenka. Trên văn bản thì những người phụ trách một khoá thiền Vipassana là những phụ tá giảng dạy. Nhưng tất cả mọi người trong khoá đều gọi họ là thầy. Những thầy mà tôi đã học qua đều là cư sĩ.

Hàng năm có nhiều khoá thiền 10 ngày Vipassana được tổ chức tại Torana. Tôi thường theo học khoá mùa Thu. Được đi trên những con đường mòn trong rừng vào mùa nầy với thời tiết mát mẻ, phong cảnh thiên nhiên rực rỡ màu sắc của lá Thu cùng với bầu không khí thanh tịnh nơi đây thì thật là lý tưởng đối với tôi. Tôi cũng thường theo học những khoá có trăng. Sống trong một chung cư tại thành phố nên tôi ít có dịp được ngắm trăng. Đêm Torana thật tĩnh mịch. Ánh trăng trong đêm 13, 14 và rằm chiếu chênh chếch trên những ngọn cây phong (maples) mùa Thu thật huyền ảo.

Ngày đầu tiên của khoá thiền Vipassana được kể là ngày zéro! Buổi sáng dành để ổn định nơi ăn ở, hành lý và thủ tục ghi danh. Buổi chiều nhập học, nhà bếp có dọn một buổi ăn nhẹ cho thiền sinh. Có hai phòng ăn riêng biệt. Một phòng ăn dành cho nữ và một phòng cho nam. Trong khi chờ đợi dọn ra buổi cơm chiều thì những người làm công quả như tôi tập trung tại phòng ăn trong bếp để nghe huấn từ của thầy Goenka về bổn phận và trách nhiệm khi tình nguyện làm nhiệm vụ cho khoá thiền Vipassana. Bài nầy dài khoảng một tiếng và khác với những bài mà tôi đã có dịp nghe trước đây.

Sau buổi ăn chiều, thiền sinh được tập trung lại để nghe hướng dẫn tổng quát về khoá thiền và nội qui. Đây cũng là một cơ hội chót để thiền sinh quyết định nên tiếp tục ở lại hay nên ra về. Một trong những nội qui là thiền sinh không được nói chuyện với những thiền sinh khác, kể cả ra dấu bằng tay hay bằng mắt. Thiền sinh phải giữ sự im lặng, bắt đầu từ 8 giờ tối ngày zéro đến 10 giờ sáng ngày thứ 10. Sự im lặng nầy được gọi là sự im lặng thanh tịnh (noble silence). Tóm lại, đối với thiền sinh thì tất cả thời gian là dành để học và thực hành thiền Vipassana.

Đúng 8 giờ tối, tất cả thiền sinh và những người làm công quả chúng tôi đến thiền đường để được gọi tên vào chỗ ngồi của mình trong đó. Mỗi chỗ đều có một tấm nệm vuông, tôi đo bằng mắt mỗi cạnh khoảng 8 tấc và dầy khoảng 5 phân. Trên đó đã có sẵn một cái gối hình chữ nhật, chiều dài khoảng 4 tấc, ngang 2 tấc rưỡi và dầy 8 phân. Nệm và gối đều được bao lại bằng áo màu xanh dương đậm. Thiền sinh phải ngồi chỗ đã được chỉ định. Danh sách thiền sinh được ghi trên sơ đồ do những người quản lý khoá học (course managers) giữ để họ có thể điểm danh trong âm thầm vào những giờ ngồi thiền chung. Nếu thiền sinh vắng mặt, thường do ngủ quên, thì người quản lý sẽ đến phòng ngủ để tìm, căn cứ trên sơ đồ chỗ ngồi nầy.

Nếu những ai vì lý do sức khoẻ hay là chưa quen cách ngồi xếp bằng thì có thể cho người quản lý hay để ngồi trên ghế dựa có bốn chân. Thường thì những ghế nầy được xếp sát tường hay phía sau của hàng thiền sinh cuối cùng. Xếp ghế như vậy để không che tầm mắt của thầy cô ngồi trên bục khi nhìn xuống thiền sinh và cũng để tránh cho thiền sinh ngồi dưới nệm phải nhìn thấy cái ghế trước mặt mình.

Tư thế ngồi thiền trên sàn thì không bắt buộc phải theo một tư thế nhất định nào. Thiền sinh tự chọn lấy thế ngồi thích hợp cho mình. Điều quan trọng là phải giữ cho cổ và lưng được thẳng. Hai mắt nhắm lại. Hai cánh tay xuôi theo thân người còn hai bàn tay thì xếp lại sao cho thoải mái và đặt trên bàn chân. Thiền sinh có thể cho bàn tay nầy đặt trên bàn tay kia, cả hai lòng bàn tay úp xuống hay ngửa lên đều được. Hai bàn tay cũng có thể được đặt trên đùi hay trên đầu gối và hai lòng bàn tay úp xuống hay ngửa lên đều được. Kể cả “bắt ấn” (ngón tay cái chạm nhẹ vào ngón trỏ). Thiền sinh có thể ngồi xếp bằng, bán già hay kiết già. Thế kiết già còn gọi là hoa sen, cả hai bàn chân được đặt trên hai đùi và lòng bàn chân ngửa của chân nầy được đặt trên đùi chân kia. Tôi chỉ ngồi được thế bán già.

Cũng có thiền sinh ngồi theo thế cỡi ngựa trên 4 cái gối. Đây là tư thế mà tôi đã ngồi trong mấy ngày đầu khi theo học Vipassana lần đầu tiên. Trong những ngày đó tôi đã tập ngồi xếp bằng trong khi nghe thuyết Pháp. Đến giữa khoá học thì quen và ngồi được luôn khi thiền.

Hằng ngày có ba tiếng ngồi thiền chung tại thiền đường; buổi sáng từ 8 giờ tới 9 giờ, trưa từ 2 giờ rưỡi tới 3 giờ rưỡi và buổi tối thì từ 6 giờ đến 7 giờ.

Sau khi tất cả mọi người lần lượt ngồi vào vị trí đã được chỉ định của mình, từ phía cửa bên hông thiền đường cả hai thầy cô bước vào thiền đường. Khoá thiền Việt Anh mùa Thu 2016 chính thức bắt đầu vào lúc nầy.

Mở đầu là tiếng tụng (chanting) của Goenkaji, tên gọi theo cách gọi của người Ấn Độ để tỏ lòng tôn kính thầy Goenka. Những lời tụng bằng tiếng Pali nầy chỉ là lời dạy của Đức Phật Thích Ca, được trích ra từ các kinh được ghi chép lại. Mục đích là để tạo những sức rung (vibration) thanh tịnh cho thiền đường.

Kế đó tất cả mọi người được yêu cầu lập lại lời xin nương tựa vào tam bảo (Phật, Pháp, Tăng - Buddha, Dhamma, Sangha) và giữ ngũ giới: không sát sanh, không trộm cắp, không tà hạnh, không nói dối và không dùng những chất gây say. Riêng những thiền sinh cũ đã từng học qua một khoá thiền Vipassana 10 ngày giống như khoá đang theo học thì cần phải giữ thêm 3 giới nữa: không ăn sau 12 giờ trưa, không trang điểm và không nằm giường cao.

Tiếp theo đó tất cả chúng tôi được yêu cầu lập lại lời thỉnh cầu để được học Anapana (quán hơi thở). Tất cả những lời lập lại nầy đều bằng tiếng Pali.

Sau cùng tất cả đều được học Anapana bằng cách theo dõi hơi thở ngay lỗ mũi mình mỗi khi hít vào hay thở ra. Thở một cách tự nhiên và bình thường. Đây không phải là bài tập thở mà là “quán” tức là nhận biết hơi thở. Nếu hơi thở ra vào bên trái thì nhận biết rằng hơi thở lúc nầy ra vào bên lỗ mũi trái. Nếu hơi thở ra vào bên phải thì nhận biết rằng hơi thở lúc nầy ra vào bên lỗ mũi phải. Còn nếu hơi thở ra vào cả hai bên thì nhận biết rằng hơi thở lúc nầy ra vào cả hai lỗ mũi. Nếu hơi thở sâu thì nhận biết rằng hơi thở lúc nầy sâu và nếu hơi thở cạn thì nhận biết rằng hơi thở cạn. Thật là đơn giản và dễ dàng phải không quí vị? Nhưng để theo dõi hơi thở liên tục hàng giờ thì cần phải thực tập. Tâm luôn có khuynh hướng hoặc nghĩ về những chuyện đã xảy ra trong quá khứ hoặc nghĩ về những chuyện chưa xảy đến trong tương lai mà quên làm điều hiện tại, ngay thời khắc nầy. Đó là theo dõi hơi thở.

Sang ngày thứ nhất và ngày thứ hai thì vẫn tiếp tục thực hành Anapana. Thầy Goenka cũng có nhắc là nếu không cảm nhận được hơi thở khi nó trở nên quá nhẹ (vi tế), thì thiền sinh có thể tạo ra vài hơi thở hơi mạnh một cách cố ý. Nhưng sau khi cảm nhận được hơi thở trở lại rồi thì cần phải theo dõi hơi thở tự nhiên của cơ thể một cách bình thường. Thiền sinh cũng được hướng dẫn là cần phải nhận biết được sự phớt chạm của hơi thở vào những nơi mà nó tiếp xúc. Có thể bên trong mũi hay ở ngoài mũi. Cũng có thể là ở cửa mũi hay ở mép. Nếu tâm của thiền sinh đủ bén nhạy thì họ cũng nhận biết một sự thật là nhiệt độ của hơi thở ra ấm hơn một chút so với nhiệt độ của hơi thở khi hít vào. Đây là điều tự nhiên, nhưng thực sự cảm nhận được một cách rõ ràng là điều thiền sinh đang thực tập để đạt đến.

Tối ngày thứ hai sau giờ nghe thuyết Pháp (Dhamma Discourse), thiền sinh được hướng dẫn thêm là trong lúc thực hành Anapana, khi quan sát hơi thở ra vào thì có một phản ứng sinh học, hoá học, hay điện từ nào đó xẩy ra ở khu vực mũi. Những phản ứng sinh học, hoá học, hay điện từ sinh ra nầy không có một chút gì liên quan đến hơi thở cả. Đây là một cảm giác (sensation). Cũng còn gọi là cảm thọ, theo thiển ý tôi. Một khi cảm nhận được là đang có một cảm giác nào đó thì thiền sinh cần tập trung theo dõi cảm giác, nhận biết chúng là cảm giác gì. Nếu không biết tên gọi cũng được. Cảm giác không thể chọn lựa được, tự nó sẽ xẩy đến. Điều quan trọng là chỉ ghi nhận những cảm giác đó thôi mà không phản ứng lại chúng. Thí dụ như khi cảm nhận được cảm giác ngứa thì biết là ngứa thôi, chớ không đưa tay lên gãi. Hành động gãi là phản ứng lại cảm giác ngứa. Cần phải tránh. Chỉ quan sát cảm giác mà thôi. Khoảnh khắc tới đây cảm giác ngứa nầy rồi cũng sẽ qua đi. Không cách gì tồn tại mãi mãi được.

Bắt đầu đêm nay và ngày thứ ba, thiền sinh tập trung quan sát cảm giác thay vì hơi thở ở vùng mũi. Chấp nhận cảm giác và quan sát chúng. Không phản ứng lại với bất cứ một cảm giác nào xẩy đến. Cảm giác luôn có mặt ở mọi nơi trên thân thể. Nếu thiền sinh không cảm nhận được cảm giác ở vùng mũi vì chúng quá nhẹ mà tâm thì đang được huấn luyện để trở nên bén nhạy hơn thì thiền sinh quan sát hơi thở ra vào trở lại. Khi có cảm giác thì quan sát chúng và nếu không có cảm giác thì chuyển qua quan sát hơi thở. Đặt nặng phần quan sát cảm giác hơn phần quan sát hơi thở. Nếu cảm nhận được nhiều cảm giác cùng một lúc ở vùng mũi nầy thì thầy Goenka dặn rằng nên tập trung vào cảm giác nhẹ nhất. Có như thế thì tâm mới trở nên bén nhạy được.

Trong lúc tâm đang tập trung quan sát cảm giác xẩy ra ở vùng mũi, nếu có một cảm giác nào đó mạnh hơn, cũng đồng nghĩa với thô hơn cũng đang xẩy ra ở một vùng khác trên thân thể thì thiền sinh không hướng sự tập trung qua nơi đó. Chỉ tập trung quan sát cảm giác xẩy ra ở vùng mũi mà thôi. Có thực hành như thế thì tâm của thiền sinh mới trở nên bén nhạy hơn vì cảm nhận được những cảm giác nhẹ khó hơn là cảm nhận được những cảm giác thô.

Càng ngày càng thu hẹp diện tích quan sát ở quanh vùng mũi. Từ một vùng quan sát hình tam giác thu hẹp diện tích xuống còn một điểm lớn chỉ bằng đầu ngón tay. Tam giác có đỉnh trên sống mũi, hai đỉnh còn lại nằm ở mép. Nay chỉ một điểm ở trên nhân trung, ngay điểm tiếp xúc với mũi. Nhân trung là rãnh ở giữa mũi và miệng. Quan sát những cảm giác ở điểm nhỏ nầy và không phản ứng lại. Tâm đang được huấn luyện để càng ngày tâm càng trở nên bén nhạy hơn. Từ những cảm nhận thô, dễ nhận thấy đến những cảm nhận được những cảm giác thanh nhẹ, khó nhận thấy.

Thiền sinh đang thực hành giữ giới ở Torana, đây là giai đoạn thứ nhất. Liên tục quan sát hơi thở ra vào hay quan sát cảm giác mà không phản ứng lại, từ khoảnh khắc nầy sang khoảnh khắc khác sẽ đưa thiền sinh tới chánh định. Đây là giai đoạn thứ hai. Thiền sinh được hướng dẫn từ từ để sang giai đoạn thứ ba, tuệ giác.

Một phần ba thời gian đầu của 10 ngày thiền Vipassana nầy là dành cho Anapana và hai phần ba thời gian còn lại là dành cho Vipassana. Cách chia 1/3 và 2/3 thời gian nầy cũng được áp dụng cho những khoá có thời gian ngắn hơn 10 ngày hay dài hơn 10 ngày. Do đó ngày thứ tư là ngày bắt đầu học Vipassana cho khoá 10 ngày. Ngày nầy rất quan trọng. Giờ thiền chung buổi trưa ngày Vipassana được dời lại sớm hơn nửa tiếng, tức là từ 2 giờ đến 3 giờ và ngay sau 15 phút nghỉ giải lao thì vào buổi học Vipassana liền. Buổi học dài một tiếng rưỡi. Trong suốt khoảng thời gian học Vipassana trưa hôm nay thì thầy Goenka yêu cầu tất cả phải ở lại trong thiền đường.

Cũng giống như lời thỉnh cầu để xin được học Anapana vào ngày zéro, thì giờ đây trước khi được truyền dạy Vipassana thiền sinh cũng thỉnh cầu để xin được học Vipassana. Tất cả thiền sinh và những người làm công quả được yêu cầu lập lại lời thỉnh cầu, cũng bằng tiếng Pali.

Thay vì theo dõi cảm giác trên một điểm ở nhân trung như thời gian vừa qua thì bây giờ tập trung theo dõi cảm giác trên toàn thân. Bắt đầu từ đỉnh đầu. Tập trung sự chú ý vào đó để xem nơi đỉnh đầu có cảm giác gì hay không, ngay thời điểm nầy. Tâm sẽ cảm nhận được một cảm giác nào đó ở đây. Rồi từ đó cứ thế mà đưa sự chú ý của tâm đến một vùng khác trên cơ thể để nhận biết những cảm giác ở vùng đó. Diện tích quan sát một vùng rộng khoảng 5 đến 8 phân. Nếu tâm không cảm nhận được cảm giác thì quan sát một vùng lớn hơn. Như cả gương mặt, cả vùng ngực. Rồi sau đó từ từ thu hẹp diện tích quan sát trở lại. Cảm giác có thể như “thấy” kiến bò, có thể là những cảm giác phập phồng, ngứa ngáy. Có thể là những cảm giác khó chịu, dễ chịu, tê, nóng, lạnh, đổ mồ hôi... hay cũng có thể là những cảm giác không tên, không biết gọi là gì.

Chúng tôi được hướng dẫn là chỉ quan sát chúng thôi mà không phản ứng lại. Cũng không đồng hoá mình với cảm giác đó. Những cảm giác nầy luôn thay đổi từng giây phút.

Đa số độc giả có lẽ đã nghe qua chữ vô thường. Thực hành Vipassana quí vị sẽ thật sự nhận thấy được sự vô thường ở ngay trên thân thể mình. Sự biến đổi, sinh diệt liên tục của tế bào cùng với những phản ứng hoá học trong cơ thể tạo ra những cảm giác. Quan sát những cảm giác nầy. Không ưa thích chúng khi cảm nhận được những cảm giác dễ chịu. Không ghét bỏ chúng khi cảm nhận được những cảm giác khó chịu. Luôn giữ tâm an bình, thanh thản. Sự hiểu biết về luật vô thường nầy là qua kinh nghiệm của từng thiền sinh chớ không phải là sự hiểu biết qua sách vở.

Phương pháp giảng dạy của thầy Goenka rất khoa học. Tôi có thể nói rằng ai cũng học được. Từ ngày thứ tư cho đến hết khoá, mỗi ngày tất cả chúng tôi được học thêm một chút. Tất cả chỉ là sự chú tâm quan sát cảm giác ngay trên chính cơ thể của mình.

Quan sát cảm giác khắp thân thể bằng cách hướng tâm mình đến từng vùng một. Trước hết hãy chọn lấy một con đường thích hợp và hướng tâm theo đường đã chọn để đi đến từng vùng và quan sát cảm giác ở vùng đó. Chọn một thứ tự đường đi sao dễ nhớ để tránh trường hợp bỏ sót một vùng nào đó. Liên tục di chuyển tâm mình. Từ trên đỉnh đầu xuống dưới ngón chân, rồi theo chiều ngược lại. Từ bề mặt ngoài của da vào đến khắp các nội tạng bên trong cơ thể, rồi ngược lại.

Thời gian để quan sát một vòng trung bình khoảng mười phút, nếu thiền sinh cảm nhận được cảm giác ở khắp mọi nơi trên thân thể. Quan trọng là không bỏ sót một vùng nào hết và không phản ứng lại với những cảm giác cảm nhận được. Nếu không cảm nhận được cảm giác ở một nơi nào đó trên cơ thể thì có thể ngừng lại ở nơi đó khoảng một phút, rồi di chuyển sự chú tâm vào vùng kế đó. Chúng tôi được dạy rằng không cảm nhận được cảm giác không có nghĩa là nơi đó không có cảm giác nhưng vì tâm chưa đủ bén nhạy để nhận biết. Lần quan sát tới hay là lần quan sát tới nữa thì sẽ nhận được một cảm giác nào đó ở vùng mù mờ nầy. Bất cứ nơi nào thân thể cũng đều có cảm giác. Không cảm giác nầy thì cũng cảm giác nọ, hai mươi bốn giờ một ngày trong lúc thức cũng như lúc ngủ vì sự sinh diệt liên tục xảy ra.


Những gì tôi vừa kể chỉ là một phần nhỏ của sự hướng dẫn cách thực hành Vipassana. Mục đích chỉ để ghi lại những gì tôi đã học được trong thời gian ở Torana. Để học Vipassana chân truyền từ thầy Goenka thì không gì bằng đến một thiền viện. Những thiền viện Vipassana như Dhamma Torana nầy có mặt khắp nơi trên thế giới và được dịch ra khoảng 80 thứ tiếng. Tất cả thiền viện Vipassana nầy đều có cùng thời khoá biểu và nội qui. Sự giảng dạy cùng những bài thuyết Pháp bằng CD hay băng cassette đều do chính Goenkaji giảng. Còn người thầy phụ trách khoá học có nhiệm vụ chính là trông chừng thiền sinh trong thiền đường và trả lời các câu hỏi hay thắc mắc có liên quan đến những lời hướng dẫn của thầy Goenka. Nếu có câu hỏi thì thiền sinh hay người làm công quả có thể ghi tên xin gặp riêng thầy trong khoảng thời gian từ 12 giờ đến 1 giờ trưa. Ngoài ra thì họ cũng có thể hỏi thầy sau giờ hướng dẫn cuối ngày, vào lúc 9 giờ đêm.

Trong mười ngày thực hành Vipassana, thiền sinh ngồi thiền mỗi ngày khoảng mười tiếng. Tiếng kẻng báo thức đầu tiên trong ngày vào lúc 4 giờ sáng. Nửa tiếng sau, 4 giờ rưỡi bắt đầu giờ thiền trong ngày. Có thể ngồi ở tại phòng mình hay trong thiền đường đến 6 giờ rưỡi. Theo tôi thì khoảng thời gian nầy rất quan trọng vì hàng ngày vào giờ nầy thầy Goenka tụng khoảng nửa tiếng tới 45 phút để tạo bầu không khí thanh tịnh trong thiền đường cho cả trọn ngày hôm đó. Tôi thường đến thiền đường trong khoảng thời gian nầy nhưng chọn ngồi trong thất (cell). Cứ cách ngày thì tôi rời thất lúc 5 giờ hai mươi để vào bếp phụ với những người làm công quả khác chuẩn bị bữa ăn sáng cho thiền viện vào lúc 6 giờ rưỡi.
Kỳ tới: Ba tầng Sankharas, Nghệ Thuật Sống và Chết
(VB)Trước cuộc hội nghị với Chủ Tịch TC Tập cận Bình, chánh quyền Mỹ với TT Trump đã làm bàn, tiên hạ thủ vi cường để đi kèo trên TC, giành thế thượng phong.

Chánh phủ Mỹ đợi TC mất kiên nhẫn, phải cử nhà ngoaị giao cao cấp nhứt của Đảng Nhà Nước TC là Uỷ viên Quốc vụ Viện Dương khiết Trì hối hả qua Mỹ mở lời với một số phụ tá TT Trump để cho Chủ Tịch Bình sang Mỹ gặp gỡ TT Trump. Nhưng TT Trump chỉ tiếp xã giao Ô. Trì trong 5 hay 7 phút thôi. Sau đó Ngoại Trưởng Mỹ mới sang Bắc Kinh bàn nghị trình và thời điểm dứt khoát.


Phía Mỹ chọn ngày 6 và 7 tháng Tư, 2017 và tại Mar-a- Lago, Florida, dinh thự nghỉ mát riêng của Ô Trump ở, làm nơi gặp gỡ, chớ không phải Toà Bạch Ốc là phủ tổng thống Mỹ làm nơi hội nghị. Một kiểu Mỹ tỏ ra thế “vĩ đại” đối với Chủ tịch Tập cận Bình, một người Trung Hoa, một đại cán CS coi vấn đề “ưu việt”, ăn trên ngồi trước rất quan trọng, đến tao thành thói quen nói xong là tự vổ tay khen mình trước cử toạ xem rất di hợm.

Còn non một tuần lễ nữa là tới ngày hai bên diện kiến, TT Trump chơi một cú làm bàn mạnh cho phía Mỹ trong cuộc hội nghị thượng đỉnh lần đầu. TT Trump viết trên Twitter của Ông, nói đánh đầu TC, cuộc gặp diễn ra vào cuối tuần tới với phía Trung Quốc “sẽ là rất khó khăn. Chúng ta không thể có thêm thâm hụt thương mại khổng lồ và mất việc làm nữa”.“Các công ty Mỹ phải sẵn sàng tìm kiếm các phương án thay thế.”

Những lời gọn nhưng nặng ký này làm thiên hạ nhớ lại trong cuộc tranh cử ông Trump đã từng nhiều lần tố cáo Trung Quốc «đánh cắp» hàng triệu công ăn việc làm của người Mỹ, và Ông còn hăm dọa áp đặt thuế trừng phạt hàng nhập từ Trung Quốc. Ông cũng tố thâm hụt thương mại của Mỹ, Trung Quốc là thủ phạm «số một».

TT Trump còn thêm một cú đà đao lợi hại hơn nữa. Ông ký hai sắc lịnh liên quan đến vấn đề thâm hụt thương mại của Hoa Kỳ, mà Trung Quốc chánh thức bị điểm mặt, kêu tên. Tin VOA tiếng nói chánh thức của chánh quyền Mỹ cho biết, “… ngày 31/3 Tổng thống Trump đã ký các sắc lệnh nhằm xác định các vi phạm gây thâm thủng mậu dịch Hoa Kỳ.Văn phòng Đại diện Thương mại Mỹ cho biết các chính sách công nghiệp và tài trợ tài chính của Bắc Kinh đối với các ngành công nghiệp như thép và nhôm đã gây ra thực trạng sản xuất dư thừa và làn sóng xuất khẩu ồ ạt làm méo mó thị trường toàn cầu và gây phương hại cho các công ty cạnh tranh.”

Rồi Bộ trưởng Thương Mại Hoa Kỳ, Wilbur Ross, thông báo, thừa lệnh của tổng thống, cơ quan này sẽ lập một danh sách các thủ phạm gây ra tình trạng thâm hụt thương mại Mỹ, «theo từng nước, từng sản phẩm một», cũng như những cam kết trong các thỏa thuận mậu dịch tự do mà đối tác không tôn trọng. Danh sách, được hoàn tất trong 90 ngày, sẽ được dùng làm cơ sở cho các quyết định của tổng thống. Bộ trưởng Thương Mại Wilbur Ross nhắc lại Trung Quốc là thủ phạm «số một».

Thế là TC xuống tinh thần lo sợ tình hình căng thẳng thêm lên sẽ bất lợi cho TC trong cuộc hội nghị thượng đĩnh Trump và Bình đầu tiên. TC liền xoa dịu và bày tỏ mong muốn hơp tác. Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc, Lục Khảng, nói gần như năn nỉ Mỹ, rằng Bắc Kinh mong muốn hợp tác thương mại với các nước. “Về các vấn đề tồn tại giữa Trung-Mỹ trong quan hệ thương mại, cả đôi bên nên tìm giải pháp thỏa đáng trong sự tương kính và đôi bên cùng có lợi, bảo đảm sự phát triển ổn định của quan hệ thương mại Trung-Mỹ.” Tân hoa xã tiếng nói chánh thức của Đảng Nhà Nước TC còn hà hơi tiếp sức cho Ngoại giao, tỏ ra dịu giọng, nhẹ lời trong bài xã luận bằng Anh ngữ, rằng “dù hai nước khó thu hẹp cách biệt chỉ từ một cuộc gặp ngoại giao nhưng chỉ cần đôi bên duy trì sự chân thành để thảo luận và nhượng bộ trên tinh thần tương kính thì không có khác biệt nào là quá sức không thể khỏa lấp.”


Tin RFI của Pháp, “Về vấn đề thương mại, thứ trưởng Ngoại Giao Trung Quốc khẳng định rằng Bắc Kinh không hề tìm kiếm thặng dư thương mại với Hoa Kỳ và cũng không có ý định «thúc đẩy xuất khẩu bằng cách phá giá đồng tiền để cạnh tranh». Theo ông, khi nâng tiêu thụ trong nước, Trung Quốc sẽ gia tăng phần nhập từ Mỹ và ông cũng đề nghị Washington giảm nhẹ kiểm soát việc xuất sản phẩm công nghệ cao cấp sang Trung Quốc. Ông Trịnh Trạch Quang còn nhấn mạnh là đầu tư Trung Quốc tại Mỹ đã tăng khá mạnh những năm gần đây, điều này đã cho phép «tạo công việc làm (cho người Mỹ) và giảm bớt tình trạng mất cân đối trong thương mại».”

Chánh phủ Trump thừa biết Chủ Tịch Bình rất cần tương quan giao thương, kinh tế với Mỹ bình thường trong thời gian sắp tới vì quyền lợi riêng của Ô. Bình. TC sắp đại hội đảng CS lần thứ 19 vào mùa thu năm nay. Đại đa số uỷ viên Bộ chánh trị thân Ông Bình tới tuổi hồi hưu. Nếu đấu đá với Mỹ, kinh tế TQ sẽ chao đảo, Chủ Tịch Bình mất thế chánh đáng để tái nhiệm thêm một nhiệm kỳ nữa.

Giữa TT Trump và Chủ Tịch Bình hiện có quá nhiều hồ sơ nóng bỏng. Nào vụ TC thao túng tiền tệ, làm hại tính cạnh tranh của Mỹ, cướp việc làm của Mỹ. Nào CS Bắc Hàn mấy lần phóng hoả tiễn, thử nguyên tử, Mỹ đòi TC áp lực và trừng phạt mạnh. Rồi vụ TC chống Mỹ đặt dàn hoả tiễn THAAD ở Nam Hàn. Nào vấn đề Biển Đông, TC quân sự hoá biển đảo. Hai ngày ở Florida, Ô Bình lại không biết và ghét chơi golf cho đó là môi trương móc ngoặc tham nhũng. Ông không thể bàn chánh trị trong thời gian thư dản như khi TT Trump chơi golf với Thủ Tướng Nhựt ở đây sau khi TT Trump tiếp TT Nhựt long trọng ở Toà Bạch Ốc.

Những vấn đề lớn, nóng và nhiều như trên khó có thể đi đến một chung quyết, thoả thuận nhanh. Nên hai bên chỉ có thể dò dẫm ý của nhau thôi. Nhưng “dò sông dò biển dễ dò, nào ai bẻ thước mà đo lòng người”. Nhứt là người đó là TT Trump là một con người mà báo chí Mỹ và quốc tế thường nói không thể đoán trước được./.(VA)
Má tôi thường dí dỏm “Một thằng Việt Kiều và một bầy Việt gian” để mắng yêu đám con cháu tụ hợp ăn nhậu rần rần mỗi lần tôi về Việt Nam thăm gia đình.

Năm 1998 tôi trở về Việt Nam lần đầu tiên sau 25 năm xa xứ.

Ngồi trên máy bay mà lòng tôi hồi hộp vì bấy lâu nay, Việt Kiều bị xem là “bọn ngụy, là thành phần phản bội quốc gia, làm tay sai cho địch, thù hằn với cách mạng”, bổng nhiên được vinh danh thành “Việt Kiều yêu nước”

Ý nghĩa và cảm xúc của cụm từ “Việt Kiều” thay đổi theo thời gian với bao vui buồn vinh nhục, kẻ thương người ghét, kẻ khen người chê. Việt Kiều có thể phân biệt giữa Việt Kiều “chui” và Việt Kiều “ bay”. Việt Kiều “chui”, phải trốn chui trốn nhủi liều chết mà đi, được danh hiệu Việt Kiều phải trả bằng mồ hôi, nước mắt, tội tù, và cả sinh mạng của mình. Còn Việt Kiều “bay” ung dung ra đi, được người đưa kẻ đón, bay vù là tới đích. Rồi tiệc tùng khoản đãi, tiếp đón vui mừng. Nhưng nói chung chung, Việt Kiều là …Việt Kiều. Có ai phân biệt Việt Kiều “chui” hay Việt Kiều “bay” bao giờ?

Theo định nghĩa Việt Kiều là người Việt Nam ở ngoại quốc (overseas Vietnamese) một khi trở lại Việt Nam sẽ là người Việt, nên phải chịu sự quản trị của chính quyền VN. Điều nầy đúng cho các “Việt Kiều bay” vì họ song tịch, nhưng đối với các “Việt Kiều Chui”, họ đâu còn là công dân của CHXHCNVN nữa nhưng vẫn “được xử đẹp” khi vừa đặt chân đến phi trường Tân Sơn Nhất.

Tội nghiệp “Việt Kiều chui”, chui đi rồi lại chui về, chui cách nào cũng khổ!

Khi bang giao Việt Mỹ vừa được thành lập (July 11, 1995) quyết định về Việt Nam là cả một sự liều lỉnh. Có người còn trăng trối trước ngày ra đi; hồi hương mà còn hơn ngày nào vượt biển! Việt Kiều bị kiểm soát theo dỏi chặt chẽ. Đến phi trường phải khai báo với hải quan tất cả những gì mang theo kể cả nhẫn cưới, đồng hồ cho đến cái quẹt zippo. Khi rời Việt Nam nếu thiếu sót món nào sẽ được “mời” đi “làm việc”.
Anh bạn ngồi sát tôi trên phi cơ kể lại rằng bạn gái anh đã về năm trước, phải giấu tiền trong quần lót để mang về cho gia đình đang đói khổ. Tội nghiệp cô gái đang xinh đẹp trở thành người khuyết tật, đi đứng khó khăn.

Tôi có người bạn phải trở về Mỹ sớm một tuần, bị khủng hoảng tinh thần trầm trọng. Anh “đăng ký di trú” ở Sai gòn, rồi về tỉnh thăm gia đình bên vợ, ngủ lại đêm. Sáng sớm hôm sau có công an đến tìm, “mời” anh trình diện gấp. Có thể công an chỉ “mời” anh để nhắc nhở đăng ký chỗ ở mới, nhưng khi được “mời” anh teo quá, vọt luôn về Mỹ, thề không bao giờ trở lại cái xứ quá lịch sự hay mời mọc nầy.

Phi cơ vừa đổ xuống phi trường Tân Sơn Nhất tự nhiên cảm giác hồi hợp chuyển sang lo lắng. Tôi thấy bồn chồn, cái cảm giác sợ sệt, bất an bổng chợt đến, nhất là khi thấy cờ đỏ treo rợp khắp nơi, cái màu “ấn tượng” làm tôi thấy ớn lạnh.

Máy bay đậu xa tít ngoài phi đạo. Mọi người tự khệ nệ hành lý xách tay của mình đi bộ vào phi trường. Thuở ấy không có cầu quây, cũng không có xe bus. Người nào cũng mang theo mấy túi xách tay căn phồng vì cố nhét thêm cái bàn chải đánh răng, cục kẹo, cục xà bông cho gia đình.

Rồi đến màn làm thủ tục. Lúc ấy là thời buổi “kinh tế”, cái gì cũng hiếm, nên các Quan ở phi trường tiết kiệm cho quốc gia kể cả tiếng nói và nụ cười, mặt lạnh như tiền, chỉ lườm lườm nhìn mặt từng người. Quan cầm hết giấy tờ rồi cắm đầu, giúi mắt vào cái hộ chiếu, lặng thinh, như đang đợi chờ ở tôi điều gì. Không khí nặng nề. Vì là lần đầu tiên về xứ nên tôi lớ ngớ như đang đứng trước vành móng ngựa, mắt nhìn vẩn vơ mấy con thằn lằn trên trần nhà. Khá lâu sau, ngài lừ đừ ngước mắt nhìn tôi, mở miệng bắt đầu thẩm vấn. Tôi cứ vểnh tai “xin lỗi” mãi, vì Quan nói rất nhanh, lí nhí trong miệng, hình như tiếng Việt, giọng Bắc mà tôi chưa bao giờ nghe. Quan thấy tôi cứ lớ ngớ mãi mất thì giờ nên cho đi qua. “Khù khờ” nhiều khi cũng có lợi.

Những lần kế tiếp tôi về Việt Nam với gia đình. Bà xã tôi muốn được yên thân như bao hành khách khác, khuyên tôi nên “ Dĩ hòa vi quí”, nhưng tôi nhất định không nghe vì nghĩ rằng “Hối lộ cho bọn nầy để được yên thân, nhục nhả lắm”. Mình chửi người ta ăn hối lộ bây giờ lại chính mình xúi họ ăn!”. Tôi nhất định đóng vai “khù khờ”, đứng lì như lần trước. Nhưng lần nầy Quan còn lì hơn tôi, không thèm mở miệng. Thấy tình hình không ổn, bà xã kéo tôi về sau, giả lã chào hỏi rồi chìa tay như bắt tay Quan, trong bàn tay bà lộm cộm tí quà! Tôi làm ngơ không “thèm” thấy, vừa quê, vừa nhục, nhưng lại mừng vì được bà xã nhanh nhẩu cứu bồ. Đợi khi qua khỏi ải tôi hùng hổ cự nự bà, y như một tên hảo hán: “các bà chỉ giỏi cái miệng thày lay, để đàn ông người ta làm việc”. Bà im rơ, không thèm trả lời, nhìn tôi bằng cái đuôi mắt!

Thêm mấy trạm xét nữa phải qua trước khi đến đến trạm nhập cảnh mà tôi gọi là trạm “thông cảm”, cách xa chừng vài mươi thước, nhưng phải đi lòng dòng mấy lượt mới đến, trông giống như ở các phi trường quốc tế ở các xứ văn minh, to lớn lắm..

Trạm nầy các Quan ngồi thụp trong cái hộp, chỉ ló nửa cái đầu và cái mũ kết. Quan ở trạm nầy hình như không ai biết nói. Họ chỉ nhìn và bổn phận kiều dân phải “thông cảm” họ đang nghĩ gì. Nơi đây tôi đã một lần lỡ dại, bị giữ lại vì không biết “thông cảm”, không biết “dằn” chiếu khán bằng đô. Quan nổi giận, chơi tôi liền tại chỗ. Ngài đưa cho mấy cái mẫu đơn hất cầm về phía cái bàn trống. Ngài phán:

“Nàm nại cái đơn này”.

Tôi ngạc nhiên, thì ra ngài biết nói cứ đâu có bịnh hoạn gì!

Tôi cự nự:

“Tôi có visa sao phải làm lại?”

Quan vẩn không nhìn tôi, nói trổng không:

“Bảo nàm tì nàm”

Tôi đã nóng mũi chửi thầm “nàm tì nàm” sợ gì, rồi loay hoay làm lại 3 cái đơn cho gia đình 3 người. Làm xong, nhìn quanh mọi người đều đã đi hết, chỉ còn lại gia đình tôi. Tôi sinh lo “Chết cha rồi, còn mấy cái va-li chưa lấy...” Tôi lính quýnh vội nộp đơn. Quan vẫn không thèm nhìn tôi, cũng không thèm đọc đơn, phán:

“Nộp ba tấm hình”

“Mồ tổ nội mày, làm sao tao có sẵn ba tấm hình mà nộp?!” tôi chưởi thầm.

Tôi thấy nóng mặt, rịn mồ hôi trán, định chơi xả láng cho đã tức rồi đến đâu thì đến. Có cái cùi chõ thúc vô hông, bà xã tôi lườm cho một cái, rồi nháy nháy một mắt, ý muốn nói “để đó cho bà lo!” Đang hùng hổ tôi xếp ve. Bà đã nắm sẵn trong lòng bàn tay tờ giấy bạc cuộn tròn, làm như vô tình với tay bỏ rơi xuống bàn.

Quan vẫn oai nghi, bình thân như vại, mặt vẫn lạnh như đồng, dằn 3 cái sổ thông hành đã đóng dấu visa. Vẫn không thèm nói, chỉ khoát tay ra dấu cho đi, còn dạy dỗ theo:

“Nớ né, nần sau nớ nàm tốt né”.

Chỉ tội cho tôi, bị bà xã cằn nhằn dài dài vì tội anh hùng không đúng chỗ; và từ đó bà phụ trách luôn “khâu giao tế” ở phi trường.

Hỗn độn nhất là ở cái trạm hải quan, nơi kiểm soát hành lý. Mặc tình cho mọi người chen chúc xô đẩy. Nhiều người không biết luật giang hồ, va li bị mở tung để lục xét, đồ đạc lung tung. Các bà vừa xếp đồ vừa lầm bầm chửi rủa. Có ông tức quá vất cả đồ xuống đất, văng vảy tung tóe, miệng chửi thề ỏm tỏi!! Riêng tôi từ lúc được bà xã truất phế thành “phó thường dân”, mọi chuyện đều tốt đẹp hơn. Bà xã tôi biết “nàm tốt” nên chúng tôi được tống khứ ra khỏi trạm thật nhanh để trống chỗ cho mối khác.

Có một lần khác, được tin ba tôi nhập viện vì bị tai biến mạch máu não, đang trong tình trạng coma. Nóng lòng như lửa đốt, tôi phải bay về Việt Nam gắp nên không kịp làm chiếu khán. Tôi đi đường bằng một chiếu khán tạm và được cho biết là chiếu khán chính thức sẽ được cấp khi đến phi trường TSN. Dĩ nhiên là tôi phải trả một giá rất cao cho dịch vụ chiếu khán tạm nầy. Vì bắt buộc nên tôi phải đi nhưng “đánh lô tô” trong bụng.

Tới phi trường TSN, họ giữ luôn sổ thông hành rồi “mời” tôi về nghỉ ở một khách sạn để chờ giải quyết. Khách sạn nầy sao rất lạ, có cổng sắt đóng kín mít, lại có lính gác? Anh lính gác cũng đặc biệt, mặc đồ lính nhưng mang dép cao su và bỏ áo ngoài quần, ngồi gác chân lên bàn.

Căn phòng nhỏ xíu, sơn màu vàng với cái giường con, khi nằm còn ló hai cái bàn chân ra ngoài. Người tôi ướt mem “mồ hôi mẹ mồ hôi con” với cái nóng Sài Gòn hâm hấp. Bóng đèn điện ở giữa phòng thì lù mù, nhấp nhá khi tối khi sáng theo điệu “tăng gô”.

Đợi cả buổi chiều không thấy ai tiếp xúc, bị đói run và khát nước khô cả cổ, tôi nhờ anh lính gác mua giùm chai nước, 2 tô hủ tiếu và gói thuốc, tôi và hắn cứa đôi. Bây giờ tôi đã khá hơn, biết cách “nàm tốt”. Không có tiền Việt Nam, tôi đưa hắn tờ $ 20 đô, không thấy anh đưa lại tiền thối nhưng tôi không dám hỏi. Tô hủ tiếu nhỏ xíu, gắp một đũa là hết sạch. Tôi húp hết nước lèo vẩn còn đói. Hủ tiếu gõ Sài Gòn thế mà ngon lạ, nhưng giá cả thì không rẻ, mắc gấp mấy lần ơn ăn ở khách sạn năm sao!

Trời đã tối, tôi bắt đầu thấy lo. Khoảng 8 giờ có người đến gặp tôi. Anh chàng ăn mặc lịch sự nhưng tôi phải vểnh tai nghe cho kịp vì anh nói rất nhanh, giọng Bắc lạ lắm. Bên Mỹ tôi phải vểnh tai ráng nghe vì họ nói tiếng Mỹ, còn ở đây anh bạn nói tiếng Việt Nam nhưng tôi còn ngố hơn! Anh đề nghị để anh lo mọi chuyện, tốn $200, bảo đảm ra tức khắc. Tôi nghe mùi khó ngửi, biết đang gặp bọn bất lương nên từ chối.

Suốt đêm hôm đó tôi không ngủ được, ôm cái bụng đói thao thức nhìn cái bóng đền chớp chập chờn điệu “Tăng gô” chuyển sang “xì lô rock”, vừa giận mình ngu, vừa tức mình bị gạt, lại vừa sợ: “Cá nằm trên thớt, không biết bị chặt kiểu nào đây?”

Sáng hôm sau, sau một ngày một đêm bị bỏ đói, tôi được trả lại hết giấy tờ thêm giấy chiếu khán, nhưng phải trả $40 cho khách sạn “không sao”, và các cước phí khác, tổng cộng khoảng $80. Tắm hơi được khuyến mãi miễn phí. Một khi cá đã vào rọ rồi, không trầy vi cũng tróc vảy. Tôi kéo vali ra đường, đứng lơ ngơ như con bị bỏ chợ, chửi thầm mình: “bỏ tật mầy ngu nghe lời chúng hứa, sao không nhớ lời Tổng Thống Thiệu nói!”

Chuyện dài phi trường nó xưa như trái đất nhưng nói hoài không hết. Nhưng phải công nhận là có sự tiến bộ. Ngày nay đến phi trường không còn thấy “ớn lạnh” như xưa nữa. Hồi xưa Quan “dọa” để ăn. Lần lần Quan ăn nhờ “thông cảm”. Sau đó thì quan “xin xỏ” đàng hoàng. Thà thế mà vui cả đôi bên, không thấy tức trong lòng.

Một lần khác tôi đưa bà mẹ vợ về Việt Nam ăn tết. Các Quan vui vẻ xin tiền lì xì:

“Tết nhất đến “dồi”, xin bác cứ “nì xì” vô tư ạ.”

Mẹ tôi nhanh nhảu móc túi lấy mớ giấy bạc nhét vào tay họ. Tôi thấy vậy cự nự bà:

“Má nầy, chỉ tập chúng nó ăn bẩn rồi quen”

Mẹ tôi vừa kéo tay tôi đi nhanh hơn, vừa đi vừa cười tủm tỉm:

“Má đâu có ngu, giấy một đồng đó con!”

Viêt Kiều ngày nay càng ngày càng “lém”, hù dọa họ không sợ, xin xỏ họ làm lơ. Các quan ở phi trường sống được là nhờ “dưới hốt trên nâng”, nếu dưới không hốt thì lấy gì mà nâng lên trên! Các quan “bần cùng sinh đạo tặc” nên gần đây xuất hiện chiêu mới, rạch toẹt các va li mà chôm chỉa thì tụi bây có chạy đàng trời!

Bị hành hạ, bóc lột, bị đối xử lạnh lùng vô cảm, Việt Kiều vẩn ùn ùn kéo nhau về nước. Điều đáng buồn là cách đối xử “kém văn hóa” nầy chỉ áp dụng cho “Khúc ruột ngàn dậm” mà thôi. Tôi thấy các hành khách người Á châu như Đại Hàn, đám Tàu ngố mặc quần “xà lỏn” áo thun đi dép chệt nghênh ngang qua ải. Người Âu người Mỹ không ai dám đụng đến. Chỉ tội nghiệp cho đám “mít” hồi hương là con cừu non béo bở một khi đã lạc vào trong đám sói, mặc tình chúng giỡn mồi.

Nắng Saigon như đổ lửa. Các thân nhân đến đón Việt Kiều bị chặn ngoài sân bởi cái hàng rào sắt. Giữa trời nắng chang chang hàng trăm người già trẻ bé lớn đứng lố nhố, chen lấn nhau, tay ngoắc miệng kêu, ráng vương cổ, nhón gót để nhìn thấy thân nhân đang bước ra khỏi cửa phi trường.

Sao bao năm thương nhớ, nhiều bà mẹ vừa trông thấy con đã òa lên khóc. Mấy cô cậu trẻ, miệng réo om sòm, tay ngoắc lia, ngoắc lịa “Em đây nè chị Hai..hu. hu, anh Ba.. hu… hu…” rồi với tay ra ngoài rào sắt nắm áo người thân miệng mếu máo. Kẻ hân hoan người sụt sùi, gia đình sum hợp bùi ngùi, cảm động làm sao mà kể xiết.

Chú Út và anh Bảy đem ghe đến đón tôi ở chợ quận. Lúc ấy (1998) phương tiện giao thông đường bộ gần như không có. Mọi di chuyển đều bằng ghe.

Hai mươi lăm năm rồi mới gặp lại nhau, trông ai cũng già đi. Chú Út ngày nào là cậu thư sinh trung học, bây giờ trông dạn dày sương gió. Anh Bảy, chàng Thượng Sĩ Quân Cảnh Tư Pháp oai nghi, nay tóc đã hoa râm, tay chân chai cứng, cái khắc khổ của người nông dân tay lắm chân bùn. Ba anh em nhìn nhau không biết nói gì. Chú Út rơm rớm nước mắt: “Anh Chín khỏe” rồi nghẹn lời. Anh Bảy bóp vai tôi thật mạnh như muốn tỏ hết tình thương và sự vui mừng, mắt ai cũng rưng rưng ngấn lệ.

Khi đến nhà, tôi không thể nhận ra bờ sông trước nhà nơi mà ngày xưa tôi cùng hai người anh lặn hụp cả ngày, tắm sông, câu cá.

Cả nhà tề tựu đón Việt Kiều về xứ. Con nít chạy lăng xăng phụ khuân vác mấy cái va li. Mấy bà vừa lo cơm nước vừa chạy vô chạy ra thăm hỏi. Mấy ông khề khà lai rai rượu đế. Hôm nay nhà vui như có giỗ.

Ba tôi lúc ấy đã mù, ngồi trên bộ ván đợi con. Hai tay ba bóp nhẹ tay tôi, từ bàn tay cho đến vai, xem con mình mập ốm ra sao, sau bao năm xa cách. Nước mắt tôi chải dài trên má, nhưng cố gắng không bật thành tiếng khóc trước mặt mọi người đang quây quần. Má tôi nước mắt lưng tròng, tay bà nắm tay tôi không rời. Ngồi cạnh ba tôi, bà lắc tay ông rồi nói: “ông dặn tui không được khóc khi gặp thằng Chín nó về, nhớ nhen”. Trong khóe mắt sâu thẩm của ba tôi đọng đầy nước mắt. Tôi không dằn lòng nỗi nữa, chạy vội ra sau nhà bật thành tiếng khóc. Có ngờ đâu anh Bảy cũng giống như tôi, trốn mọi người, đang đứng khóc sau nhà. Hai anh em nhìn nhau rồi cùng chùi nhanh nước mắt, trở vào nhà xúm xít cùng anh em, rót rượu cụng ly chúc mừng nhau, “dô, dô” vui như hội.



Quê hương là cái nôi nuôi ta khôn lớn, là nơi mà những hạt giống yêu thương được gieo trồng, nẩy mầm, ăn sâu thành cội rễ. Đó là cái gốc Việt. Việt Kiều tha hương như đám chim lạc bầy khát khao được bay về tổ ấm để tìm lại những hạt giống yêu thương đó, cái mà mà họ thiếu thốn ở xứ người.

Rồi theo thời gian, những Việt Kiều lớn tuổi lần lượt ra đi, âm thầm mang theo với họ những hình ảnh đẹp của quê hương ngày xưa. Giấc mộng ngày vinh quang trở về với quê cha đất tổ đành gởi lại cho đàn con. Nhưng tiếc thay đàn con, những Việt Kiều hậu bối, đã thay đổi rồi. Dưới mắt họ, Việt Nam xa lạ quá, nó có gì đâu mà lưu luyến, để mà về!
Cả người Việt Nam trong xứ nếu có cơ hội còn muốn bỏ xứ mà đi. Phong trào xuất ngoại đang rần rộ trong mọi giới. Các đại gia tìm nơi rửa tiền. Thành phần trí thức, giới trẻ đi tìm đất lành chim đậu. Giới bình dân, vì bát cơm manh áo, phải chấp nhận “xuất khẩu lao động”, xuất khẩu “ô sin”. Nhưng cái quốc nhục là phong trào xuất khẩu “gái giống” sang Tàu, Đài Loan, Đaị Hàn dưới hình thức cô dâu. Thật đau đớn thay cho con cháu bà Trưng, bà Triệu ngày nay!

Mặc ai bỏ xứ ra đi, mặc ai không màn trở lại, Việt Kiều khắp nơi vẫn ùn ùn kéo nhau về xứ.

Họ có thể là những “Việt Kiều cô đơn” luôn canh cánh bên lòng nỗi buồn viễn xứ muốn hồi hương để gặp lại người thân, tìm lại hương vị quê hương, muốn nhìn lại nơi chôn nhau cắt rún của mình. Việt kiều nầy ngày nay là “loài quí hiếm”, rất khó tìm.

Họ có thể là những “Việt Kiều áo gấm về làng”, là thành phần trẻ đã tạo được đời sống ổn định, tài chính dồi dào, nay “Vinh quy bái tổ” để giúp đỡ thân nhân, xun xoe cùng hàng xóm láng giềng.
Họặc họ là những “Việt Kiều du khách”. Họ muốn nhìn thấy và khám phá Việt Nam, hoặc để tìm nơi vui chơi giải trí, hàng tốt, giá bèo.

Nhưng thành phần cần suy ngẫm là những “Việt Kiều cơ hội” thành phần đã chóng quên dĩ vãng đau thương quay về họp tác với CSVN vì tiền. Đồng tiền đã biến họ thành những “Việt Kiều vong bản”, đã góp tay xây dựng chế độ CS đề cùng nhau rút rỉa xương tủy Việt Nam.

Từ ngày viễn xứ, tôi xem mình như là con chim Việt lạc bầy nhìn lại quê hương với một nỗi niềm riêng. Việt Nam thay đổi quá nhiều, quá nhanh, đến đổi tôi không còn theo kịp nữa. Sau 44 năm lưu vong nhìn lại quê hương, sao thấy mình xa lạ. Tôi tự hỏi có phải chăng tôi đã tách rời khỏi quê hương hay chính quê hương đang từ bỏ những con chim lạc bầy?

Tôi thấy xót xa trong lòng mỗi khi nghe câu hát nhạc của sĩ Lam Phương:

"Ngày xưa tôi quen từng viên đá quanh sân trường”

“Nay sao nghe khác từ tên đường!”



Tôi thấy mình lạc lỏng vì đã bỏ quê hương xứ sở mà đi, nhưng sao có những người trẻ tại Việt Nam như cô giáo Lam cũng thấy lạc lỏng giữa quê hương của mình? Cô đã viết lên niềm đau ray rứt trong tim qua bài thơ “Đất nước mình ngộ quá phải không anh” đã làm rung động bao trái tim:

Đất nước mình ngộ quá phải không anh
Bốn ngàn tuổi mà dân không chịu lớn
Bốn ngàn tuổi mà vẫn còn bú mớm
Trước những bất công vẫn không biết kêu đòi…
Đất nước mình lạ quá phải không anh
Những chiếc bánh chưng vô cùng kì vĩ
Những dự án và tượng đài nghìn tỉ
Sinh mạng con người chỉ như cái móng tay…
Đất nước mình buồn quá phải không anh
Biển bạc, rừng xanh, cánh đồng lúa biếc
Rừng đã hết và biển thì đang chết
Những con thuyền nằm nhớ sóng khơi xa…
Đất nước mình thương quá phải không anh
Mỗi đứa trẻ sinh ra đã gánh nợ nần ông cha để lại
Di sản cho mai sau có gì để cháu con ta trang trải
Đứng trước năm châu mà không phải cúi đầu…
Đất nước mình rồi sẽ về đâu anh
Anh không biết em làm sao biết được
Câu hỏi gửi trời xanh, gửi người sau, người trước
Ai trả lời dùm đất nước sẽ về đâu…

Niềm đau ray rứt nầy không phải của riêng cô, mà là của hằng triệu trái tim, là niềm đau chung của dân tộc Việt Nam, kể cả những người Việt lưu vong khắp nơi trên thế giới, những người còn gọi Việt Nam là “đất nước mình”.
Chú Chín Cali
Anne Khánh Vân
Từ ngày có gia đình sang ở gần, tôi “phong phú” được thêm một số “đức tính” cùng một số kiến thức, nhất là kiến thức về bệnh tật.


Những kinh nghiệm và học hỏi có đủ loại: từ đau lặt vặt nơi con trẻ như sốt nửa đêm phải đi cấp cứu, hay té lăn quay trên cầu thang lăn xuống bươu đầu sứt trán… đến mổ hạch, mổ ruột thừa, cắt bao quy đầu. Nói là lặt vặt nhưng khi nhìn thấy cu Khang còn thuốc mê, nằm im không cục cựa trong phòng hồi sức với con chim sưng vù với hàng chục mũi kim khâu như cái vương miện dựng đứng… ai cũng thất kinh hồn vía?!


Những bệnh tình hoặc quá trình khám nghiệm cầu kỳ nơi người lớn có thể là soi ruột và soi bao tử (endoscopy) để khám phá ung thư bao tử, hay soi mạch tim, thông và nông mạch tim (angioplasty) để ngăn ngừa nhồi máu cơ tim … mất thời giờ và phức tạp hơn từ phần chuẩn bị đến việc chữa trị.


Rồi gần đây nhất là các chứng ung thư, đặc biệt là tuyến tiền liệt (prostate cancer). Tên căn bệnh này thì tôi có hay nghe tới, nhưng biết được bao nhiêu thì lại là chuyện khác. Chị bạn nghe chuyện tía tôi mắc bệnh, hỏi thăm “ung thư tuyến tiền liệt là ung thư gì hở em? Tuyến tiền liệt nằm ở đâu?” Nếu căn bệnh này không gõ cửa nhà tôi mà tôi biết tuyến tiền liệt là cái thứ tuyến gì thì tôi… chết liền á. Người nhà mắc phải mà kẹt không khá tiếng Anh để có thể tự đi bác sĩ và cần mình đi theo nên tôi phải tìm hiểu về căn bệnh để làm cái cầu trung gian giữa bác sĩ và bệnh nhân.


Ngoài những bộ phận chung mà cơ thể nào cũng có, phụ nữ thì có các chứng như ung thư vú, ung thư buồng trứng, ung thư tử cung... Đàn ông thì ung thư tuyến tiền liệt (prostate). Tuyến tiền liệt, hay còn gọi là nhiếp hộ tuyến, có kích thước cỡ trái óc chó (walnut), nằm phía dưới bọng đái (bladder) và phía trước trực tràng (rectum). Ống nhỏ dẫn nước tiểu và tinh dịch đi suốt chiều dài của dương vật (pennis) sẽ đi ngang qua tuyến tiền liệt. Tuyến tiền liệt cung cấp chất liệu dung môi giúp tinh trùng tồn tại và di chuyển dễ dàng đến trứng trong lúc giao hợp. Tuyến tiền liệt phì đại lần thứ nhất ở độ tuổi thanh thiếu niên trong điều độ của kích tố nam (male hormone). Thời kỳ phì đại lần thứ nhì diễn ra trong độ tuổi 45-60. Tuyến tiền liệt không cần thiết cho suốt quãng đời sống, nhưng nó quan trọng cho việc duy trì giống nòi.


Khi ung thư tuyến tiền liệt ngày càng phổ biến nơi nam giới, kiểm tra độ bình thường của tuyến tiền liệt (PSA - Prostate-Specific Antigen) đã trở thành bắt buộc trong những kỳ khám bệnh hàng năm với mục đích phát hiện ung thư sớm để chữa trị kịp thời. Chỉ số PSA dưới 4 sẽ là bình thường. Từ ngoài 4 đến 10 sẽ thuộc ung thư với nguy cơ thấp. Trong giữa 10 đến 20 sẽ thuộc nguy cơ trung bình. Từ 20 trở lên sẽ là cao. Và kết quả PSA của tía Hai Lúa của tôi là 37.9 có nghĩa rất cao. Phải làm sinh thiết (biopsy) để xác định chắc chắn độ ung thư.


Quá trình thực hiện sinh thiết (Biopsy procedure) này sẽ nhéo ra một số mẩu tế bào của nơi khả nghi có ung thư để xét nghiệm. Kết quả sinh thiết của tía Hai Lúa tôi: trong 12 mẩu tế bào tuyến tiền liệt được lấy ra và làm xét nghiệm thì 10 mẩu có kết quả ung thư cao.


Hẹn với bác sĩ kéo dài hơn một giờ đồng hồ. Theo dõi và chữa trị cho một bệnh nhân ung thư đòi hỏi sự kết hợp của nhiều bác sĩ. Bác sĩ chuyên khoa gặp gỡ gia đình tôi cũng là người đã làm sinh thiết cho tía tôi. Bà đã hội ý với đồng nghiệp chuyên chữa trị căn bệnh và giải thích tường tận cho gia đình tôi các nguy cơ có thể xảy ra nếu ung thư phát triển nhanh, và từ đó, các bước cần làm tiếp theo, cũng như các phương cách chữa trị sẽ tùy thuộc vào kết quả của những xét nghiệm sắp đến.


Rời khỏi văn phòng bác sĩ, mặc dù đã tìm hiểu về căn bệnh mấy tháng qua, song tôi vẫn có cảm giác như mình vừa ra khỏi tiết học chuyên về bệnh ung thư tuyến liền liệt – tôi biết thêm được cả lô kiến thức quan trọng, hữu ích về căn bệnh ấy. Bên cạnh nỗi lo âu về căn bệnh của tía, tôi cảm thấy tía mình đã may mắn có được những bác sĩ giỏi, tận tình, quan tâm chữa trị.


Một khi đã được xác nhận thật sự bị ung thư và ở mức nguy hiểm nào, bệnh nhân sẽ được đề nghị chụp hình quang tuyến X (X-ray) và cắt lớp bằng điện tử (MRI) để xem ung thư có đã di căn đi đâu hay chưa.


Đây là giai đoạn hồi hộp và căng thẳng nhất. Nếu ung thư đã di căng đi nhiều nơi trong cơ thể thì coi như hơi bị… kẹt hy vọng. Một người bạn đồng nghiệp của tôi có vợ bị ung thư bao tử. Khi phát hiện thì ung thư đã vào tủy. Chị được chữa trị bằng hết tất cả các cách: giải phẫu cắt đi bướu ung thư, xạ trị (radiation) cho vùng tủy xương bị ung thư lan đến, và hóa trị (chemo) để mong đánh bại tất cả các tế bào ung thư đang có bất cứ đâu trong cơ thể. Chị được chữa trị khoảng một năm thì qua đời, để lại ba đứa con đều dưới 18 tuổi. Đi đám chị, nỗi buồn thấm thía trong tôi. Người ta vẫn thường nói, “sinh lão bệnh tử”… nhưng chị ấy còn chưa bước qua tuổi 50!


Tôi đưa tía mình đi chụp quang tuyến X để dò ung thư trong phần mềm (nội tạng, bắp thịt) của cơ thể. Kế đó là chụp MRI, để dò ung thư trong các phần cứng (xương cốt). X-ray và MRI là những phương pháp định dạng những cấu trúc bất thường của sinh mô bằng những tần số và những bước sóng khác nhau. Nhược điểm của X-ray so với MRI là nó chỉ cung cấp những định dạng phẳng của những sinh mô bất thường trong nội tạng của cơ thể, chẳng hạn có thể thấy vết nám trong phổi, hay sạn trong thận... MRI thì sử dụng hiện tượng cộng hưởng của vật lý để cung cấp được những định dạng ba chiều bằng phương pháp cắt lớp. MRI không làm hại cho những sinh mô lành. Trong khi X-ray thì có thể. Bạn có nhớ khi đi nha sĩ mà cần chụp hình răng, chúng ta phải được phủ lên người miếng áo khoác bằng chì để các tia X-ray không làm hại đến những sinh mô lành trong cơ thể.


Tổng cộng thời gian cho quá trình chụp từ đầu xuống chân bằng cả hai phương pháp X-ray và MRI kéo dài từ 3 đến 4 tiếng đồng hồ vì bệnh nhân phải uống gần 2 lít dung dịch phát quang trong nội tạng. Tôi xin bác sĩ cho ngồi nhìn màn hình chung với họ. Khi thấy một hình dạng gì mà con mắt không chuyên môn y khoa của tôi hổng hiểu nổi, tôi nhờ bác sĩ giải thích. Thế là lại được hiểu thêm một vài điều mới. Quả thật, kiến thức nào cũng có cái giá của nó.


Trong phòng chụp hình có nhạc thư giãn giúp bệnh nhân quên đi lo âu. Không biết khi nằm trong cái máy chụp hình đó, tía tôi đã suy nghĩ những gì vì bản tính ông rất “vô tư”... Tôi nhớ lại lần ông ngoại bên nhà đột nhiên ngã bệnh. Tôi chạy về ở bên ông ba tuần. Đưa ông vào nhà thương để siêu âm, xếp hàng chen chúc và chờ thật lâu, khi vào được trong và tới phiên ông ngoại được siêu âm, ông được các nhân viên siêu âm khoảng năm phút… Các cục ung thư cái to bằng trái cam, cái to bằng quả trứng, đã đi cùng khắp. Ông ngoại là tất cả của tôi. Nhìn ông, lòng tôi bể ra từng mảnh vụn …nhưng không dám tỏ ra lo âu thương xót. Ông thì nhìn xung quanh, nhìn lượng người bệnh chen chúc và chỉ muốn một điều, “Về nhà đi cháu ạ! Ông không sao đâu.” Ông đã ngoài 80. Quyết định để tâm ông được “yên” và cơ thể ông được “lành lặn”, gia đình tôi đưa ông về nhà, chuẩn bị phần tinh thần cho ông.


Hôm nay, không biết ông tía của tôi sẽ ra sao! Kết quả của buổi chụp hình hôm nay sẽ ảnh hưởng nhiều thứ trong gia đình. Những người trong nhà, từ người nhỏ tới người lớn, từ trẻ con tới người già, hổng ai biết gì nhiều. Nhiều giả thiết và kế hoạch chạy tán loạn trong đầu tôi. Trong những hoàn cảnh thế này, tôi chỉ kêu đến một người, một người ở tuốt trên cao đó!


Phải đi lung tung tứ bề và nếm trải đủ thứ mùi vị trong cuộc sống… Còn hiện hữu và đi đến được chặng đường này của cuộc đời, chẳng phải vì tôi hay ho hơn ai mà có lẽ vì tôi đã siêng cầu nguyện. Tôi tin tưởng Thượng Đế luôn đồng hành với sự cố gắng và thành tâm của mỗi người mình. Tôi nói với tía Hai Lúa, “Nếu ba chưa bao giờ tin có Thượng Đế, hoặc chưa bao giờ cầu nguyện… thì có lẽ đã đến lúc ba hãy bắt đầu tin và cầu nguyện, vì Thượng Đế có thể làm những điều con người không thể làm.”


Trước năm 75 thì tôi còn bé nên không nhận biết ba mình là người như thế nào. Nhưng từ năm 75 về sau, qua những gì tôi sống và chứng kiến khi còn gần gũi với gia đình thì có vẻ tía tôi đã mất đức tin vào ngày mai, rồi đâm nghi ngờ có chăng Thượng Đế. Nhưng tôi đã không ngừng chứng minh cho tía thấy. “Nếu không có Thượng Đế thì con, ba, và gia đình mình khó mà còn tới giờ này, lại càng chẳng bao giờ đặt chân đến được Mỹ. Ba sẽ không bao giờ được nằm trong cái máy “hiện đại” đó, ở cái nhà thương hạng nhất của nước Mỹ đó, và đang được chữa trị… dù ba không phải là triệu phú, mà cũng chưa đóng góp được cho nước Mỹ bao nhiêu.”


Xong tiến trình chụp hình, tôi đưa ba về nhà, rồi đi làm. Bác sĩ gọi điện thoại cho tôi trấn an, “Qua quan sát sơ khởi, tôi không thấy có gì trầm trọng. Sẽ chuyển hình chụp đến cho thêm một số bác sĩ chuyên xem hình. Chúng tôi sẽ liên lạc với cô ngay sau khi có kết quả chính xác. Đây là số phone của tôi. Cô có lo lâu hay thắc mắc gì hãy tự nhiên gọi.”


Từ hôm được tin tía có ung thư, gia đình tôi thay đổi chế độ ăn uống với sự hướng dẫn của những người bạn có kinh nghiệm và hiểu biết về bệnh học và cũng như những kiến thức về dinh dưỡng. Như tất cả mọi thứ Thượng Đế đã tạo ra, cơ thể của chúng ta cũng vô cùng thông minh; nó luôn tìm cách “đối thoại” với chúng ta. Cái gì quá nhiều thì sớm muộn gì cũng phải đến lúc ngừng lại; cái gì còn thiếu thì phải tìm cách thêm vô. Tía tôi ngưng ăn thịt đỏ, ngưng hút thuốc, ngưng uống rượu bia, bớt đường, bớt bột, bớt cay… Bù vào đó, ông ăn thêm đậu-hủ, cà-chua, cà-rốt, măng-tây… Thèm vị đắng và cay của bia hay rượu thì sẽ uống nước nấu từ dây khổ-qua. Nó cũng đắng và ngon y như bia!


Tía tôi hút thuốc chắc gần 50 năm… Chẳng dễ gì thuyết phục được ông bỏ thuốc. Nhưng khi phát hiện bị ung thư, có đưa thuốc dụ ông hút, ổng cũng hổng dám.


Cơ thể người hút thuốc tiết ra một loại cường toan (acid) có khả năng bào mòn và xé rách màng bao của những tế bào (membrance) trong cơ thể, mở cửa cho vi trùng và vi khuẩn có sẵn trong người vào trong các tế bào. Các vi trùng và vi khuẩn này sẽ ăn dần những chất bổ dưỡng trong tế bào, để rồi từ tình trạng mạnh khỏe ban đầu, các tế bào này sẽ bị hoại thư. Mầm ung thư bắt đầu mọc lên. Hiện tại vẫn chưa được xác định lý do chính xác dẫn đến ung thư. Chỉ biết ung thư là do sự biến dạng của DNA trong các tế bào. Khi cơ thể có nhiều tế bào trong tình trạng hoại thư, nó sẽ là cơ hội để ung thư phát triển nhanh khi ung thư xuất hiện.


Cứ mỗi lần tía tôi phải trải qua một quá trình xét nghiệm, làm sinh thiết hay chữa trị thì tôi phải thay mặt tía trả lời hàng trăm câu hỏi về quá trình sống của tía. Đâu phải trả lời “có hút thuốc” là xong. Câu hỏi kế tiếp sẽ là “mỗi ngày bao nhiêu điếu?” và người y tá sẽ làm một bài toán ngay trên điện thoại khi nói chuyện với tôi. Cô ta tính ra số điếu thuốc hút trong 50 năm qua. Dù tía tôi bị ung thư tuyến tiền liệt chứ không phải ung thư phế quản, thanh quản, phổi hay bao tử nhưng với độ cao của PSA (có nghĩa thuộc nguy cơ cao), ung thư có thể lan sang những chỗ khác nhanh ra sao vì màng tế bào không còn mạnh như những người bình thường, không hút thuốc lá khác.


Những lúc lái xe lui tới nhà thương là những lúc tôi thường nói chuyện với tía má vì khi về nhà, tôi lại phải chạy đi làm, lo nhiều việc khác. Tôi nghĩ chắc tía má cũng có khi “ngán” tôi chở họ đi nhà thương vì tôi hay “làm việc tư tưởng” với họ! Nhưng sorry nha… vì tôi quan niệm có thể hơi khác người ta một chút. Đã gọi là đối thoại thì phải thành lời. Có những đối thoại người ta thích nghe, có những đối thoại người ta không thích nghe, nhưng nếu chỉ nhìn nhau và nghĩ người kia chắc đã hiểu đã biết, không cần nói ra, rồi đòi hỏi người kia sẽ làm đúng, hoặc làm như mình nghĩ, thì kết quả có thể một trời một vực. Tôi nghĩ bụng, “Chắc tía biết cầu nguyện, có ai trên đời này lại không biết cầu nguyện?” nhưng cũng hổng chắc lắm nên tôi “đối thoại” với tía, “Khi cầu nguyện, ba cầu nguyện làm sao? Ba nói gì với ông Trời?” Tía ngần ngừ… Có lẽ vì hồi nào giờ chưa ai hỏi tía câu đó!


Tôi bèn kể chuyện cho tía nghe. “Sáng ra, trước khi ra khỏi nhà, con thắp nhang, cảm ơn ông Trời cho mình có một ngày mới. Lái xe ra khỏi nhà, con đọc kinh cầu xin cho con lái xe đến chỗ làm an toàn. Khi đến nơi, con lại đọc kinh cầu nguyện cho con có một ngày làm việc có hiệu quả. Trong ngày làm việc, khi xuất hiện những khó khăn rắc rối, con lại cầu nguyện cho con có khả năng giải quyết những gì cần thiết để hữu ích với những người xung quanh và cho nơi mình làm việc. Cuối ngày trước khi ngủ, con ôn lại mọi thứ diễn ra trong ngày rồi cảm ơn Thượng Đế, cầu sự bình an cho mọi người.” Còn những lúc cái túi chịu đựng trong con “cọp” bị đầy và nó nổi khùng lên thì sao? Con cọp đó còn cầu nguyện dữ hơn! Nó cầu nguyện cho cái con cọp trong người mềm mại lại, hiền hòa lại, kiên nhẫn hơn, biết chấp nhận và yêu thương hơn.


Ngoài chuyện thay đổi chế độ ăn uống, tía tôi cũng đi nhà thờ thường hơn. Ông có điều để cầu và nguyện. Ông đã ngộ ra sức mạnh của sự cầu nguyện và quyền năng cao cả của Tạo Hóa, bất kể mình ở đạo nào. Còn khuya mà dám thách đố ông Trời!


Qua nhiều ngày hồi hộp chờ đợi, đến ngày có kết quả của chụp hình toàn thân: “Chưa! Ung thư chưa đi đâu xa!” Bác sĩ gọi điện thoại báo tin cho tôi biết. Mọi thông tin kết quả bệnh tình của tía cũng cùng lúc được cập nhật trong hồ sơ trong nhà thương mà tôi có thể lên internet và vào xem chi tiết. Tôi điện thoại, nhắn tin báo tin cho cả nhà biết. Tin mừng này chắc cũng vui như tin đi vượt biên đến nơi bình an! Những suy nghĩ, kế hoạch và tính toán trong cái đầu của tôi bây giờ sáng lên và rẻ qua một nhánh, biết rõ hơn những gì sẽ diễn ra và cần làm.


Có bệnh nhân ung thư cả hai bên nội ngoại, tôi đã có dịp chứng kiến tiến độ của một số loại ung thư - sự khác biệt giữa các cách chữa trị, và kết quả tốt cũng như sự hũy hoại của từng cách chữa trị khi nó thích hợp hoặc đối nghịch với cơ thể. Như trường hợp vợ của anh đồng nghiệp bị ung thư bao tử - cơ thể chị ta không thích hợp với bất kỳ kiểu chữa trị nào. Xạ trị thì xạ trị. Hoá trị thì hóa trị. Ung thư vẫn y nguyên trước và sau. Và khi ngồi nghĩ lại, người chồng đã tiếc, “Cho làm lại, tôi sẽ không để vợ mình phải trải qua các hóa trị. Các hóa chất cho chạy trong người không giết ung thư mà giết cô ấy nhanh hơn.” May phước, ung thư tuyến tiền liệt có tử suất tương đối thấp. Khám phá kịp và chữa trị thích hợp, tỷ lệ bệnh nhân đánh bại được ung thư và sống còn có thể lên đến 90%. Quan trọng hơn cả cũng vẫn là sức mạnh tinh thần. Những tác nhân xung quanh sẽ có thể giúp hoặc làm mọi thứ thậm tệ hơn. Sự khuyến khích giúp bệnh nhân vững lòng, hoặc trầm trọng hóa vấn đề không cần thiết khiến tinh thần bệnh nhân thêm xuống thấp, sẽ có tính quyết định cho kết quả. Giễu cợt với bạn bè ra sao khi trò chuyện thì giễu cợt… thâm sâu trong lòng, tía biết rõ tía đã may mắn hơn triệu người khác ra sao!


Trước hết, tía sẽ được trị kích tố nam (male hormone) – chích một lần mỗi ba tháng. Từ ngày đó, tía tôi được theo dõi độ tiến hay lui của độ ung thư PSA để xem những chữa trị ảnh hưởng đến chứng ung thư trong người tía ra sao. Ngay hôm bắt đầu được chữa kích tố nam, tía được thử độ ung thư PSA. Lại một phép lạ! Độ ung thư ban đầu là 37.9, và chỉ sau một vài tháng “ăn chay” đã giảm xuống 18.6.


Nếu người đàn ông đã cao tuổi, không còn nhu cầu sinh lý, mắc ung thư tuyến tiền liệt và ung thư chưa di căn, giải phẫu cắt bỏ tuyến tiền liệt sẽ có lẽ là giải pháp thích hợp nhất. Tía tôi chọn giữ lại tuyến tiền liệt và làm xạ trị – cũng là góp ý của các bác sĩ. Ba tháng sau khi được trị hormone, tía tôi được làm xạ trị - Tùy thuộc vào độ nặng nhẹ của ung thư, bác sĩ chuyên trị xạ trị sẽ tính toán và đề nghị số lần làm xạ trị. Tía tôi sẽ trải qua 44 lần xạ trị. Xạ trị này rất nhẹ nhàng. Tía chỉ nằm vào máy như hôm người ta chụp hình X-ray toàn thân, và thời gian chiếu tia vào tuyến tiền liệt để diệt ung thư mỗi lần vậy sẽ kéo dài khoảng 10 phút. Nhưng làm sao mà biết tuyến tiền liệt nằm chính xác ở đâu, phình to ra bao nhiêu,… để mà nhắm máy “radiation” chiếu vào? Và đây là lúc tôi lại được học thêm một tiết học lý thú.


Người ta đi trám răng hay bọc răng bằng vàng, chứ có ai biết tuyến tiền liệt cũng có thể được gắn vàng? Bác sĩ chuyên “đóng mộc” vàng vào tuyến tiền liệt sẽ đưa một thiết bị vào tuyến tiền liệt và đóng ba dấu bằng vàng vào tuyến tiền liệt. Ba miếng vàng đó sẽ giúp máy phóng xạ định vị tuyến tiền liệt. Ngoài ra, để giới hạn vùng được làm xạ trị một cách chính xác - chỉ trong khoảng giới hạn của tuyến tiền liệt, chứ không quá lan rộng ra những vùng xung quanh mà làm hại đến những vùng còn mạnh khỏe khác - các bộ phận xung quanh tuyến tiền liệt phải được xác định rõ vị trí cũng như kích thước. Và để đạt được kết quả cao nhất, y khoa đã tìm ra giái pháp vô cùng hữu hiệu: tía tôi đã được đưa vào một chế độ sinh hoạt thật điều độ để các bộ phận trong người ông, nhất là ở vùng cần được chữa bệnh, cũng nằm yên trong ấy thật điều độ. Nghe thì có vẻ mơ hồ và buồn cười, nhưng chính xác là vậy. Nếu bệnh ung thư tuyến tiền liệt này mà không gõ cửa nhà tôi thì tôi sẽ chẳng bao giờ hiểu nổi và thấy được sự tinh vi và hiện đại mỗi ngày của y khoa.


Trước ngày hẹn để "đóng mộc" vàng vào tuyến tiền liệt của tía Hai Lúa, tôi quyết định tổ chức một chuyến nghỉ hè cho đại gia đình để tía má lên tinh thần. Nhưng tuần đó rơi vào thời điểm Việt Báo tổ chức lễ trao giải Viết Về Nước Mỹ. Thành ra dù đã hứa với chú Từ cô Nhã và nhiều bạn hữu Việt Bút, tôi đã không thể về dự lễ.


Vài tuần trước khi bắt đầu các kỳ xạ trị, tía tôi được uốn g thuốc điều hòa tiêu hóa. Có nghĩa ông sẽ ăn uống và tiêu tiểu đúng giờ đúng giấc hơn bất cứ khi nào trong đời ông. Sáng ra, ông sẽ đi tiêu toàn bộ để trực tràng sẽ hoàn toàn rỗng, song song, ông sẽ uống thật nhiều nước để bọng đái căng phồng ở mức tối đa. Nhớ lại là, trực tràng nằm ngay sau tuyến tiền liệt. Khi bọng đái ở phía trước căng phồng, nó sẽ đẩy tuyến tiền liệt nằm ngay phía dưới xuống phía trực tràng. Khi trực tràng trống và bọng đái căng phồng thì tuyến tiền liệt sẽ nằm yên ở vị trí đó, không thể di chuyển đi đâu. Và khi đến nhà thương mỗi sáng để được bắn tia phóng xạ vào tuyến tiền liệt, ba cái bộ phận kể trên sẽ phải nằm ở chính xác vị trí đó.


Một tuần trước khi bắt đầu làm xạ trị, tía tôi đến nhà thương để các chuyên viên và bác sĩ xạ trị làm cho ông một cái khuôn. Khuôn? Cái khuôn đó là cái giúp khi tía nằm vào máy xạ trị thì chân và hông của ông sẽ nằm yên ở chính xác vị trí đó. Hình X-ray chụp lại các bộ phận trong nguời tía trên cái khuôn vừa chế, cộng với 3 dấu vàng trên tuyến tiền liệt sẽ giúp giới hạn vùng tia phóng xạ sẽ được bắn vào. Tia phóng xạ sẽ chỉ trị các mô ung thư trên tuyến tiền liệt – không bắn xa sang những vùng lân cận.


*


Ung thư có chăng chỉ mang lại chết chóc, chia ly?! Thình lình một người quen có chồng lăn đùng ra chết một cách vô cớ. Mấy bà bạn đi đám tang nói thầm với nhau, “Thấy chồng người ta chết mà mắc ham! Chồng lựu đạn của mình cứ sống nhăn răng.” Khi hờn nhau, chắc chỉ nói vậy cho hả tức chứ thật ra mấy cái người ấy thương nhau hơn mình tưởng. Có những điều thế gian không thể hiểu kia mà!


Má tía tôi cũng là một ví dụ trong vô vàn cảnh tượng mà tôi đã thấy xung quanh mình. Cứ tưởng khi bà vợ hay ông chồng của mình bất ngờ khám phá bị ung thư thì người kia sẽ ôi thôi là mừng. Nhưng không! Tự dưng họ trở nên tình tứ thân thiện đến lạ thường. Con cháu bà con hàng xóm ai ai cũng nhận thấy và phải ngạc nhiên. Cũng may phước! Chứ nếu lỡ họ không phát hiện còn quá thương nhau mà lại dẫy nẩy không thèm đá động đến nhau (cho thấy bà luôn)… thì chỉ có bằng chết mấy đứa con như tôi. Phải đi làm, phải lo đủ thứ việc, mà còn phải giải quyết thêm những điều thế gian không thể hiểu thì chỉ có mà chết cả lô tía nhà tôi chứ không phải một ông!


Có một sáng, tôi chuẩn bị đi làm thì nghe má Hai Lúa cằn nhằn tía Hai Lúa, “Tại sao ông lại mặc cái áo ngủ đi nhà thương? Nó nhăn nhúm và đầy mồ hôi.” Tía tôi quát lại, “Mặc kệ tui!” Thấy ngứa tai gai mắt, tôi bèn “đối thoại” với tía: “Ba à, ba hãy mừng là má không dở điên, bỏ thí ba nằm lăn lóc như kẻ vô gia cư. Ba chọc má khùng lên, ngoài căn bệnh ba phải chịu đựng, ba còn phải đối phó với cái khùng điên của má (do cái khùng điên của ba tạo ra)… thì ba chỉ có nước tiêu tán đường đó ba.”


Chắc tía nghe cọp tôi gầm gừ, ông ấy hoảng, bèn xếp càng lại cho ngay thẳng, không ngang như cua nữa. Bác sĩ có báo trước rồi. Khi trị hormone, người đàn ông cũng sẽ chứng-đời y như khi người phụ nữ đến thời kỳ mãn kinh (menopause), nắng mưa thất thường, lúc nóng lúc lạnh, lúc vui lúc buồn, lúc đáng yêu ơi là đáng yêu, lúc đáng ghét ơi là đáng ghét… Không ai chịu nổi.


Có lúc tôi đã nghĩ… phát hiện bị ung thư phải chăng một tiếng còi “cảnh thức”?! Có thể họ đã nghĩ, “Ông ấy cũng sắp chết rồi, ghét làm chi nữa!” Hay là, “À không, hóa ra mình cũng không đến nỗi ghét hắn lắm! Tự nhiên nghĩ đến chia ly lại thấy sợ chia ly…” Như bà ngoại tôi là nữ hoàng giận lẫy. Bà giận ông tôi suốt cả đời. Nhưng khi ông tôi ngã bệnh sắp mất thì bà lại tỏ ra thương ông đến lạ thường. Lại những điều thế gian không thể hiểu!


Tôi lại ngẫm nghĩ, phải mà mình đừng đợi cho đến khi phát hiện có ung thư hay mắc một căn bệnh chết người nào đó để sửa chữa, yêu thương, hàn gắn, tha thứ cho nhau thì chính mình và bao nhiêu người xung quanh đã được hưởng biết bao hạnh phúc, không phải trải qua đắng cay chua xót nào cả, không hao phí một ngày sống vui nào cả!


Thành ra, căn bệnh ung thư, không chỉ mang đến những điều tiêu cực, xấu xa. Nó mang người ta lại gần nhau, nó còn giúp người ta nhận ra giá trị của hạnh phúc và sự sống,…Và khi ai đó may mắn ra khỏi căn ung thư và sống tiếp, họ sẽ hưởng bù lại những năm tháng hạnh phúc bị lãng quên.


Kết quả thử máu lần thứ 4 của tía tôi cho ra chỉ số PSA là 5.6 - gần như của người bình thường là dưới 4.


Tía má tôi lấy nhau… để đếm coi, từ năm 72… vậy là được 44 năm. Ôi trời, gõ xong dòng chữ này thì tôi cũng giựt mình. Không thể là tình cờ được! Ông tía Hai lúa của tôi trải qua 44 lần xạ trị… Sao cũng lại 44?? Thiệt ngộ! Chẳng lẽ 44 lần đưa nhau lui tới nhà thương đó là 44 dịp để họ nhớ lại những gì đã sống với nhau, đã đối xử với nhau, ròng rã suốt 44 năm qua? Những lần đầu đi làm xạ trị thì tôi có đi với tía má. Một khi chắc ăn mọi thứ đâu vào đó, và họ có thể tự túc, thì họ đã tự đi với nhau. Không biết trên đường đi, họ có (bắt chước tôi) làm việc tư tưởng với nhau không, nhưng hy vọng họ đã nối lại sợi tơ hồng và tìm cách sống hạnh phúc hơn mỗi ngày sau đó.


Như bao nhiêu chuyện cổ tích, chuyện gia đình Hai Lúa nhà tôi cũng có phần kết có hậu.


Cảm ơn Thượng Đế đã ban cho gia đình con những gì chúng con đang được nhận hưởng! Có những điều chúng con xin và được. Có những điều chúng con xin nhưng kết quả lại khác. Chúng con sẽ hiểu Thượng Đế có những sắp đặt riêng cho mỗi người chúng con, với ý nghĩa và giá trị riêng của nó.



Cầu mong năm mới bình an và hạnh phúc đến với từng bạn đọc xa gần.


Anne Khánh-Vân
Được tạo bởi Blogger.

Ads 468x60px

Followers

Featured Posts

Blog Archive

Blog Archive

Tuần Báo

Tuần Báo

RAO VẶT - Tìm Thợ

Pages

Unordered List

Hạng Mục Thương Mại

Restaurant

Sample Text

Tin Nổi Bật

Popular Posts

Recent Posts