Hiển thị các bài đăng có nhãn TÀI LIỆU. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn TÀI LIỆU. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 24 tháng 9, 2019

Trung Quốc “phá giá” tiền là biện pháp nhằm đối phó với việc Tổng Thống Hoa Kỳ Donald Trump áp thuế 10% lên lượng hàng nhập cảng còn lại của Trung Quốc trị giá $300 tỷ, bắt đầu từ ngày 1 Tháng Chín.

Hiện tại hơn 7 Nhân Dân Tệ mới đổi được 1 đô la Mỹ, tuy nhiên Trung Quốc chưa muốn dừng lại ở đó.

Báo The New York Time hôm 7 Tháng Tám dẫn nguồn tin từ Bắc Kinh cho biết, Trung Quốc có thể sẽ tiếp tục phá giá đồng Nhân Dân Tệ, hành động được cho là sẽ một lần nữa làm leo thang cuộc chiến thương mại với Hoa Kỳ.

Thứ Năm, 6 tháng 4, 2017

Do Linh và Vĩnh Linh là hai huyện cách nhau bằng con sông Bến Hải thuộc tỉnh Quảng Trị. Sau năm 1954, con sông vô danh này bỗng nổi như cồn vì trở thành sông giới tuyến phân chia giữa Nam và Bắc Việt.

Đáng ra quốc tế định chọn sông Gianh làm giới tuyến như thời Trịnh Nguyễn của mấy trăm năm về trước hoặc lấn ra đến tận Nghệ An Hà Tĩnh ở vĩ tuyến 23 cho miền Nam được thêm nhiều miền Trung hơn. Nhưng do Trung Quốc quá khôn lõi trên bàn đàm phán vì chúng hiểu rõ về vị trí địa lý và văn hóa của Trung Trung Bộ nên ra mặt đòi cho lãnh thổ Bắc Việt phải lấn sâu vào Nam một tí với dụng ý phải cách ly quê hương Quảng Bình của gia tộc Ngô Đình Diệm ra khỏi tầm ảnh hưởng của chính phủ Quốc Gia. Chu Ân Lai tin rằng khi Quảng Bình trở thành tiền đồn thì Bắc Việt sẽ thất thế 100%.

Sông Bến Hải hẹp, phía đầu nguồn có nhiều cồn đất cát, đảo nhỏ giữa dòng chưa kịp phân chia trở thành phi địa (tức là đều không thuộc quyền quản hạt của bờ Nam và bờ Bắc). Dân quê hai huyện Do Linh và Vĩnh Linh vẫn tự do chăn trâu giữ vịt trên sông dưới sự quan phòng của các cơ quốc tế trong thời gian chờ đợi tổng tuyển cử. 

Trong giai đoạn đó, có một chàng trai chăn vịt ở bờ Nam khéo dụ làm sao mà được một cô gái chăn trâu xinh đẹp ở bờ Bắc ra chơi ở cồn đất phi địa và cùng nhau tình tự như trên hoang đảo, như chỗ không người. Bến Hải bến tình, mỗi lần tình tự, chàng luôn tặng cô gái một con vịt mang về miền Bắc. Không bao lâu sau, trai Nam gái Bắc đã sinh lòng mê luyến không rời. Từng ngày sau đó, khi chàng trai không còn vịt để tặng nữa thì cô gái lại tự nguyện bồng sang bờ Nam trả lại cho chàng những con vịt trước đây.

Sông nước hữu tình, hồn quê lãng đãng, sức sống thanh xuân, trong những lần bên nhau, cô gái mới kể cho chàng trai biết ở miền Bắc bây giờ "vả và đói" lắm, không ai còn dám công khai ăn vịt ăn gà nữa vì sợ bị kiểm điểm. Cán bộ vào dòm ngó từng giạ lúa của nông dân. Sau khi trao tặng hết số vịt cho người yêu ở miền Nam, cô gái mới đề nghị với chàng trai hay là từ nay cho tôi ở lại bên chàng và không về miền Bắc nữa. Nói đoạn, nàng nhìn sang con trâu. Như có linh tính, con trâu cũng như muốn ở lại miền Nam. Miền Bắc đang có kế hoạch đưa cả trâu bò vào hợp tác xã làm trâu nó cũng sợ. Cô gái đi một bước, con trâu cũng đi một bước. Đuổi cách nào nó cũng không chịu xuống nước bơi về miền Bắc XHCN.

Chẳng bao lâu sau, tình hình Nam Bắc cũng căng thẳng lên vì không có chuyện tổng tuyển cử gì nữa. Thay vào đó, hai bên bờ sông Bến Hải, hai chính quyền Nam-Bắc cho dựng lên các khẩu hiệu tố cáo nhau, bắc loa tuyên truyền mang đầy màu sắc chính trị.

Phía Bắc, cộng sản cho lập nguyên một tổ phát thanh để tô hồng chế độ xã hội chủ nghĩa, ca ngợi tình hữu nghị Trung-Xô đến nức mũi. Ngày nào, họ cũng bắt phát thanh viên thay nhau tuyên truyền hò hét khẩu hiệu, rồi thay nhau ca hát từ ngâm thơ cho tới dân ca cho tới rã họng. Trong một số chương trình tiếng địa phương, các phát thanh viên Vĩnh Linh nhao nhao bêu xấu câu chuyện cô gái "dắt trâu theo trai" và đòi miền Nam phải trả lại con trâu cày cho miền Bắc. Dĩ nhiên, miền Nam không trả lại trâu mà kêu gọi ngược lại người miền Bắc muốn có đất ruộng trâu cày à! vào miền Nam với tổng thống Ngô Đình Diệm là sẽ có tất cả. Ngoài ra phía miền Nam còn viết câu thơ đáp lại: "Ngày xưa nô lệ đói meo - Ngày nay độc lập cổ đeo hai tròng", tức là Nga với Tàu.

Chàng trai đã xin cha mẹ cho cưới cô gái về làm vợ, còn mình gia nhập vào địa phương quân bảo vệ tiền đồn tự do.

Tuy là câu chuyện gái theo trai một cách hồn nhiên nhưng phía sau chính là sự ghi nhận chuyến vượt biên đầu tiên của người miền Bắc đào thoát khỏi chế độ cộng sản Bắc Việt - Trâu bò cũng chọn miền Nam.

Chủ Nhật, 2 tháng 4, 2017


Tháng 8 năm 1971 , chi đoàn 2/5 Thiết kỵ (-) chúng tôi biệt phái hành quân trên đất Miên với Trung đoàn 48 thuộc Sư Đoàn 18 Bộ binh trong khu vực Đông –Bắc Kampuchea . Sáng sớm hôm ấy , chi đoàn cùng với một đại đội bộ binh tùng thiết , hành quân lục soát một khu làng mạc gần bờ sông Mê Kong . Xa xa phía bên kia sông là thành phố Kompong Chàm , một thành phố lớn hàng thứ tư của Miên nằm trên Quốc lộ 7 . Rời khỏi đồn điền cao su Suông , chúng tôi men theo một hương lộ đá đỏ đi sâu về hướng Bắc . Hai bên đường là khu rừng chồi thấp không có nhà dân .

Mục tiêu là một khu dân cư thưa thớt , giữa có ngôi chùa cổ rất lớn . Nhìn cách kiến trúc , chúng tôi phỏng đoán chắc ngôi chùa cổ nầy đã xây dựng hàng trăm năm nay , cổ kính và to lớn . Sư sải chỉ có khoảng mười người , phần lớn là các vị sư già . Họ cư xử với chúng tôi chừng mực không niềm nở cũng không xa cách . Có lẽ nơi đây các đơn vị Việt cộng và Khờ Me đỏ thường xuyên lui tới nên dù muốn dù không họ cũng phải giữ một khoảng cách với đoàn quân ngoại biên đang hành quân trên đất nước họ. Suốt ngày không có cuộc chạm súng nào , chúng tôi chỉ khám phá một số hầm hố cấp Đại đội còn mới của địch rải rác trong khu vực.Có lẽ địch vừa rút đi vài hôm trước. Khoảng 5 giờ chiều chúng tôi được lịnh rút về căn cứ Chiến đoàn đóng gần Quốc lộ 7, cũng theo hướng hương lộ buổi sáng . Chiếc Thiết vận xa M113 đi đầu rời vùng hành quân chừng một cây số thì cán phải mìn chống chiến xa . Quả mìn nổ phía đầu xe , đứt xích , bể guồng kéo xích bên trái , phía bên tài xế . Các xe phía sau phản ứng tức thời khai hỏa hướng hai bên đường rừng chồi thấp. Không thấy địch chống trả như một trận phục kích . Tôi cho chi đoàn vượt hương lộ băng sâu vào hai bên đường bố trí. Như vậy chỉ có một quả mìn chống chiến xa đơn lẻ mà thôi. Lát sau tôi đến chiếc xe bị mìn quan sát . Hạ sĩ Năm tài xế M113 chết tại chỗ , trung sĩ Vân trưởng xa bị thương ở vai , các binh sĩ khác trong xa đội xây xát chút đỉnh . Lính khiêng người chết và bị thương ra khỏi buồng lái, chờ trực thăng đến tải thương. Chiếc M113 hoàn toàn bất khiển dụng , đứt xích , thủng một lổ gần chỗ tài xế ngồi . Tôi bước vào trong xe, thấy ngổn ngang vũ khí cá nhân của xa đội , 2 nòngsúng đại liên50 và 30 bị cong vì sức công phá của quả mìn. Lẩn lộn trong đó là một thanh kiếm cổ còn nguyên vẹn. Hỏi các binh sĩ thì họ cho biết là tài xế Năm lấy nó trong chùa ban trưa và đem giấu trong xe . Tôi cầm thanh kiếm lên thì thấy rất nặng , ít ra cũng cở 4-5 ký. Người xử dụng thanh kiếm nầy hẳn phải là tay vũ dũng phi thường . Tay mơ khó lòng múa nổi thanh kiếm nầy. Trước đây chủ nhân thanh kiếm nầy  chắc đã đi vào lịch sử của một triều đại Miên nào đó. Tiếc rằng trong chi đoàn chúng tôi không ai đọc được chữ Miên nên đành đoán mò mà thôi . Bao gỗ thanh kiếm màu nâu , lên nước bóng loáng , có chạm trổ hoa văn chim thú, hoa lá . Rút thanh kiếm ra khỏi vỏ , thấy tỏa ánh sáng xanh . Tôi chặt thử bụi cây ven đường , ngọt sớt, vô cùng sắc bén . Đúng là một thanh bảo kiếm giá trị không sao lường được. Thanh kiếm dài cở một mét kể cả cán kiếm. Cán kiếm cũng có chạm trổ hoa văn và chữ Miên. Lát sau trực thăng đến tải thương xong , tôi đem thanh kiếm về xe M113 chỉ huy của tôi .

Khoảng 6 ngày sau , chi đoàn chúng tôi rời vùng đồn điền cao su Suông , tiến sâu về hướng Đông Quốc lộ 7, cách ngả ba Krek chừng 50 cây số thuộc đồn điền cao su Mimot. Lần nầy chi đoàn đi chung với một tiểu đoàn  thuộc trung đoàn 48 bộ binh. Suốt ngày hành quân vô sự  . Tối đến chúng tôi đóng quân nghỉ đêm trong vườn cao su ven Quốc lộ 7. Đêm tháng 8 trời không gió, thời tiết nóng bức  nên tôi hạ cầu dốc phía sau M113 xuống , lót ván ngang hông xe , nằm trằn trọc không ngủ được. Đến khoảng 1 giờ khuya , địch bắt đầu pháo kích và tấn công vào vị trí dã chiến của chi đoàn. Chưa kịp đóng cửa cầu dốc phía sau thì một quả đạn cối 82 ly nổ cách xe chừng 5 mét. Tôi bị miểng pháo xuyên thủng bàn chân trái , thiếu tá Luân tiểu đoàn trưởng bị thương ở ngực. Tôi tự băng bó tạm thời vết thương và lên máy truyền tin điều động các chi đội chống trả. Sau chừng một giờ giao chiến , địch rút lui trước sự chống trả quyết liệt của chúng tôi . Khoảng 10 giờ sáng hôm sau , trực thăng chở trung tá Nguyên  chiến đoàn trưởng 48 và chuẩn tướng Lâm Quang Thơ Tư lịnh Sư đoàn 18 bộ binh đáp xuống gần vị trí chúng tôi , thị sát mặt trận . Một số tử thi địch còn nằm rải rác trong vườn cao su . Chừng 10 phút sau địch lại tiếp tục rót pháo vào vị trí chúng tôi . Hai vị khách chạy vào xe M113 của tôi tránh pháo . Thấy thanh kiếm cổ còn để trong xe chờ đem về hậu cứ trong đợt tiếp tế sau  , trung tá Nguyên trung đoàn trưởng hỏi xin và tôi cũng đồng ý tặng ông . Sau đó hai vị khách rời vùng giao tranh , thiếu tá Luân và tôi cũng theo trực thăng tản thương về binh viện Tây Ninh.

Trung tá Nguyên nhận được thanh kiếm báu ,ông cho người đóng một giá kiếm bằng gỗ cẩm lai rất đẹp và đem tặng cho chuẩn tướng Lâm Quang Thơ . Tướng Thơ lại đem tặng cho trung tướng Đỗ Cao Trí Tư lịnh Quân Đoàn.Sau nầy tôi có dịp trò chuyện với đại úy Tuấn-sĩ quan tùy viên của trung tướng Đỗ Cao Trí- , tháp tùng tướng Trí đi thăm trung đoàn 48 bộ binh đóng ở căn cứ Thùy dương bên Miên . Đại úy Tuấn cho biết thanh kiếm ấy vẫn còn treo tại tư dinh tướng Trí tại thành phố Biên Hòa.

Đầu năm 1972 tướng Trí cho mỡ một cuộc hành quân lớn đánh vào sào huyệt Cục R của Việt cộng tại Chlong thuộc tỉnh Kratie phía Đông Bắc Kampuchea với một lực lượng hung hậu gồm Lữ đoàn 3 Kỵ binh và Liên đoàn 5 Biệt động quân trong giai đoạn 1 và thêm Sư đoàn nhảy dù trong giai đoạn 2 . Cuộc hành quân mới bắt đầu có 5 ngày thì tướng Trí tử nạn trực thăng ở Tây Ninh trên đường bay thị sát mặt trận ở Miên . Sau khi tướng Trí chết thì 3 Sư đoàn 5-7 và 9 của cộng quân bắt đầu phản công , vây hảm và chận đường về của đoàn quân . Hàng ngày phi cơ chiến lược B52 dội bom hai bên đường nhưng địch quân vẫn bám sát . Sau nhờ Đại tá Trần Quang Khôi –Tư lịnh Lử Đoàn 3 Kỵ bịnh – điều động đoàn quân  cắt rừng chồi sâu về hướng Đông chừng một cây số rồi quay ngược,bọc hậutấn công vào hông địch tại miếu Thổ thần , sau đó đưa đoàn quân viễn chinh về đến Tây ninh , bảo toàn được lực lượng . Thế trận vùng ngoại biên bắt đầu co cụm lại cho đến ngày đoàn quân vượt biên rút hết về nước vào cuối năm 1972.

Sau ngày tướng Trí chết không còn ai biết thanh kiếm báu ở chùa Miên xiêu lạc nơi đâu . Cuối năm 1972 có một phóng viên của tờ báo Tin sáng có viết một bài về thanh kiếm nầy , cho rằng sau đó bà quả phụ Đỗ Cao Trí tặng thanh kiếm trên cho Trường Võ bị Quốc gia Đà Lạt . Chuyện nầy cần kiểm chứng lại vì sau nầy ở Mỹ , tôi có hỏi một người bạn cũ theo học khóa 26 Võ bị Đà Lạt  . Anh nầy cho biết  khi còn học tại trường, khóa anh có dịp tham quan phòng  bảo tàng của trường thì chỉ thấy tại đây có trưng bày cây gậy chỉ huy của tướng Trí bằng gỗ mun thôi . Không hề thấy thanh kiếm nào ở đó và cũng chẳng nghe cán bộ trường đề cập đến chuyện nầy.

Quí vị độc giả nếu có ai biết ít nhiều về tung tích thanh kiếm báu ở chùa Miên sau năm 1975 thì xin vui lòng cung cấp tin tức cho tác giả , để bổ sung cho bài viết nầy đầy đủ hơn. Ai cũng biết là người Miên rất giỏi về bùa ngãi , thư ếm . Do đó không rỏ có sự huyền bí nào về thanh kiếm báu mà chúng ta thấy những tai họa liên tiếp xảy đến cho những người liên quan hoặc có thời gian sờ mó tới thanh kiếm dù ngắn hay dài , từ ngày vật bất tường nầy rời khỏi chùa Miên -Kompong Chàm vào tháng 8 năm 1971 . Tôi xin tóm lược như sau:
1# Người lấy trộm thanh kiếm từ chùa Miên là Hạ sĩ Năm , tài xế Thiết vận xa M113 chết vì mìn , chỉ vài giờ sau khi sở hửu thanh kiếm.
2# Chi đoàn trưởng Vũ Đình Lưu bị miểng pháo xuyên thủng chân trái , nằm viện cả tháng sau khi giữ thanh kiếm được 6 ngày.
3# Trung tá Nguyên Trung đoàn trưởng 48 bộ binh bị tướng Trí cách chức tại mặt trận sau khi làm chủ thanh kiếm được chưa đầy một tuần.
4# Chuẩn tướng Lâm Quang Thơ được tặng thanh kiếm từ trung tá Nguyên , sau đó ông lại tặng cho tướng Trí . Sau khi tướng Trí chết chừng một tháng,ông cũng bị mất chức Tư lịnh Sư doàn 18 bộ binh , giao sư đoàn cho Đại tá Lê Minh Đảo.
5# Tướng Đỗ Cao Trí là người giữ thanh kiếm lâu nhất , đâu chừng 4-5 tháng , chết vì trực thăng phát nổ trên không ở Tây Ninh , trên đường bay thị sát mặt trận . Nguyên do chiếc trực thăng phát nổ cho đến nay vẫn còn là một nghi vấn.
 Hồ Thanh Nhã 

Thứ Sáu, 31 tháng 3, 2017


Alexander Đại đế là một trong những vị quân vương nổi tiếng nhất thời cổ đại, hậu thế nghìn năm còn ngưỡng mộ. Sự nghiệp chinh chiến vĩ đại của ông là có một không hai. Nhưng cái chết của ông cũng để lại nhiều suy ngẫm cho người đời.
Cuộc đời chiến chinh oanh liệt
Ngay từ năm 16 tuổi, Alexander đã bắt đầu theo cha rong ruổi chinh chiến và học hỏi những kỹ năng chiến trận từ cha mình, hoàng đế Philip. Năm 336 TCN, Alexander chính thức lên ngôi hoàng đế xứ Macedonia. Lên kế vị không lâu, ông bắt đầu tiến hành các cuộc chinh phạt không ngừng mở rộng lãnh thổ.
Bằng tài năng quân sự thao lược của mình, Alexander đã đạp cả Hy Lạp dưới gót chân, hướng mũi giáo chinh phạt Tiểu Á, Ba Tư, Lưỡng Hà, Ai Cập… Thậm chí, Alexander còn đi xa hơn tất cả những người tiền nhiệm của mình khi mang quân áp sát tới tận biên giới phía bắc Ấn Độ, lưu vực sông Ấn.
Chỉ trong vòng 13 năm ngắn ngủi, Alexander dựng nên một đế chế trải dài từ Âu sang Á, bao gồm tất cả các trung tâm văn minh lớn của thế giới cổ đại. Ông cũng là một mãnh tướng “bất khả chiến bại” theo đúng nghĩa đen, chưa từng thua bất kỳ trận nào trong nghiệp cầm quân.
Sau khi không thể tiến thêm về phía đông, Alexander cuối cùng cũng từ bỏ kế hoạch viễn chinh của mình và thừa nhận giới hạn của đế chế dừng lại ở bờ sông Ấn. Năm 323 TCN, trên đường trở về Babylon, Alexander mắc trọng bệnh rồi qua đời ở tuổi 33.
Ước nguyện cuối cùng
Cái chết của ông đến nay vẫn nằm trong vòng bí ẩn. Tuy nhiên, câu chuyện về phút lâm chung của vị hoàng đế vĩ đại này vẫn được người đời truyền tụng không ngớt. Chuyện kể rằng trong giây phút cảm nhận được cái chết đang bủa vây lấy mình, Alexander đã cho gọi quần thần lại và dặn: “Trước khi chết, ta có 3 điều muốn các ngươi thực hiện, nhất định không được trái ý”.
Cụ thể, ba điều đó như sau:
  • Ông muốn tất cả các ngự y giỏi nhất khiêng quan tài của mình trở về.
  • Ông muốn binh sĩ rải hết vàng bạc, châu báu, ngọc ngà mà mình để dành cả đời suốt dọc con đường dẫn ra nghĩa địa.
  • Ông muốn người ta đặt bàn tay của mình thò ra bên ngoài nắp quan tài, để tất cả đều nhìn thấy được.
Quần thần của Alexander đều vô cùng kinh ngạc, cho rằng hoàng đế của mình đã không còn tỉnh táo. Alexander lấy sức thở một hơi dài, đoạn nhìn tất cả một lượt và nói: “Sở dĩ ta yêu cầu các ngươi làm điều đó là muốn nhắn nhủ với con người thế gian 3 điều này”:
Cái chết của ông đến nay vẫn nằm trong vòng bí ẩn. Tuy nhiên, câu chuyện về phút lâm chung của vị hoàng đế vĩ đại này vẫn được người đời truyền tụng không ngớt. Chuyện kể rằng trong giây phút cảm nhận được cái chết đang bủa vây lấy mình, Alexander đã cho gọi quần thần lại và dặn: “Trước khi chết, ta có 3 điều muốn các ngươi thực hiện, nhất định không được trái ý”.
  • Thứ nhất, thầy thuốc giỏi đến thế nào cũng không thể thực sự chữa khỏi bệnh cho chúng ta. Khi đối diện với cái chết, họ cũng đành bất lực. Vì vậy, hãy biết trân quý sinh mệnh của mình.
  • Thứ hai, tiền bạc, của cải dù nhiều đến đâu, khi chết đi cũng trở thành vô nghĩa, chỉ có thể dùng để lót đường mà thôi.
  • Thứ ba, khi giã từ cõi đời, thứ con người thực sự còn lại chỉ là hai bàn tay trắng. Ta đến và đi đều là như vậy, cớ sao phải ôm giữ quá nhiều?
Nói xong, Alexander thở dài một tiếng rồi từ từ nhắm mắt. Một cuộc đời oanh oanh liệt liệt với bao chiến công kết thúc như vậy đấy!
Biết buông bỏ là một loại trí huệ
Ở thời điểm đắc ý nhất của mình, Alexander đã có cả thế giới trong tay. Ông là hoàng đế của một trong những đế chế vĩ đại nhất, lại có được sự nghiệp toàn thắng đỉnh cao. Nhưng vì sao đến lúc nhắm mắt xuôi tay ông mới hiểu những đạo lý đơn giản kia?
Bạn thử nghĩ xem, hạnh phúc đích thực trong cuộc đời mình là gì? Nhà cao, cửa rộng, xe hơi, vợ đẹp, con khôn, tiền tài? Vật chất đủ đầy có thể khiến tinh thần người ta phấn khởi nhưng niềm hưng phấn ấy không thể lâu dài. Tiền tài đến rồi lại đi, sự nghiệp thăng rồi lại trầm, nếu coi chúng là cội nguồn hạnh phúc chẳng phải chúng ta đã tự hạ thấp mình quá chăng?
Giàu có cỡ nào, quyền lực cỡ nào, bạn cũng không thể sánh bằng Alexander Đại đế. Nhưng đến ngay cả Alexander cũng vẫn cảm thấy cô đơn, không tìm được hạnh phúc đích thực của mình. Cuộc đời sao kỳ lạ đến vậy? Hạnh phúc sao khó tìm đến thế?
Càng cố gắng truy đuổi những thứ vật chất, những thứ quyền lực, dường như bạn càng mất đi hạnh phúc, càng cảm thấy đứng trên đỉnh núi cao thật cô đơn làm sao! Thực ra cách để tìm được hạnh phúc vĩnh cửu rất đơn giản:
Buông bỏ ấy không phải là từ bỏ hết thảy mọi thứ trên cõi đời, bởi dù sao bạn vẫn cần phải sinh tồn. Buông bỏ là nói về việc rũ bỏ những dục vọng truy đuổi vật chất lạc thú trong lòng.
Buông bỏ không phải là bất lực, chán chường. Buông bỏ là đặt mình ở vị trí cao hơn, từ đó mà không chấp nhặt vào sự đời.
Chỉ có bậc quân tử, có trí tuệ hơn người mới có được khả năng buông bỏ. Khi hiểu thấu lẽ đời hoàn toàn, triệt để, người ta sẽ trở nên rộng lượng hơn, bình thản hơn trước những được mất tầm thường, từ đó mà tìm được hạnh phúc. 
Hữu Bằng (Đại Kỷ Nguyên)

Thứ Tư, 29 tháng 3, 2017

Lá thư dưới đây được viết sau sự kiện 11/9. Tôi gửi lá thư ngỏ này tới người anh chị họ của tôi đang lo ngại về viễn cảnh di cư sang Mỹ. Nhưng tôi có cảm giác lá thư này đặc biệt có ý nghĩa vào lúc này, nên xin giới thiệu với quý vị bản cập nhật.
Anh chị thân mến,
Là người nhập cư  ở Mỹ lúc này thì thế nào? Anh chị hỏi rằng liệu nước Mỹ có còn là nơi đáng sống không và giấc mơ Mỹ còn khả thi không?
Những câu hỏi của anh chị làm tôi phải suy nghĩ. Vì chỉ vài năm trước thôi thì có người Việt Nam nào lại hỏi những câu đó? Chả phải giấc mơ Mỹ, hay nói đúng hơn là giấc mơ qua Mỹ sống, đã khiến hàng triệu người bỏ xứ ra đi và khuấy động suy nghĩ của nhiều triệu người khác ở quê nhà hay sao? Tôi thấy đau lòng khi nghĩ đến anh chị có thể không sang đây sống nữa. Với tôi, đây là một tin xấu về đất nước mà tôi đã nhận làm quê hương.
Vậy mà đó lại là điều không thể phủ nhận được. Đất nước của người nhập cư một lần nữa đang quay lưng lại với chính người nhập cư. Chỗ đứng của người nhập cư trên đất Mỹ đang ngày một bất trắc. Ngay cả những người đã là công dân Mỹ hiện nay cũng bị đổ lên đầu những lời lẽ thù hằn, nhiều người bị tấn công trong bối cảnh các vụ tội phạm mang tính thù địch ngày một tăng. Ở các trường học, học sinh da trắng hét vào mặt những người bạn học gốc Mêhicô hoặc theo đạo Hồi: “Xây tường chắn!”
“Xây tường chắn!” đang trở thành khẩu hiệu mang tính phân biệt chủng tộc mà nhiều người hô vang khắp nơi nhằm vào những ai không phải là người da trắng.
2017-02-08-1486590726-9013476-gop2016trumpjpeg950be.jpg

Anh chị 
đã nghe qua hình ảnh ẩn dụ về một con chim hoàng yến trong mỏ than chưa? Khi hoàng yến ngừng hót, ấy là lúc ôxy đã hết, thành ra dấu hiệu cảnh báo cho tất cả mọi người.
Ở Mỹ, khi bối cảnh là một xã hội tự do và cởi mở, thì người nhập cư là con chim hoàng yến đó. Kinh tế suy thoái, người ta thường đổ lỗi cho người nhập cư đầu tiên. Còn trong cuộc chiến Mỹ chống khủng bố hiện nay, người nhập cư nhanh chóng trở thành kẻ phải giơ đầu chịu báng.
Sau cuộc bầu cử đã đưa ông Donald Trump lên làm tổng thống Mỹ năm 2016, trong nhiều vụ tội phạm mang tính thù địch, những kẻ gây tội đã viện dẫn tên tổng thống Trump như để hợp pháp hóa hành động bạo lực và những lời lẽ nhục mạ của họ.
Trong khi tôi viết lá thư này thì nhân danh bảo vệ và an ninh cho người dân Mỹ, quyền của người nhập cư đang dần tiêu tan. Sinh viên, người lao động nước ngoài run sợ. Tôi đã thấy ở sân bay một người đàn ông Nam Á tay run lên khi đưa tấm thẻ xanh cho nhân viên nhập cảnh, lo sợ sẽ bất ngờ bị bắt giữ và trục xuất. Tôi biết một sinh viên trường Đại học California ở thành phố Berkeley không có giấy tờ định cư hợp pháp (cậu được đưa đến Mỹ từ khi 3 tuổi), nay khi điền vào tờ đơn nào cậu cũng đưa địa chỉ giả vì sợ bị trục xuất.


2017-02-08-1486590339-421738-H05_Racist_Trump_USA.jpg

“Tôi vẫn hy vọng.”
Tuy nhiên, tôi vẫn hy vọng. Người Mỹ đã biểu tình ở các sân bay khi ông Trump ký sắc lệnh hành pháp ngăn chặn một số người nhập cảnh vào Mỹ, kể cả những người đã có thẻ xanh. Phong trào phản đối cách điều hành tàn bạo mới này rất mạnh mẽ và vẫn đang diễn ra. Tôi hy vọng rằng những gì ông Trump đang gây ra ở nước Mỹ và trên thế giới có thể giảm bớt vì ông ta đang ngày càng bị ghét bỏ. Xét cho cùng, ông ta đang phá bỏ những thể chế quốc tế đã được thiết lập từ Chiến tranh thế giới thứ hai, có thể sẽ đưa thế giới về lại tình trạng các quốc gia cạnh tranh với nhau bằng cách dựng lên các đường biên cứng rắn, thuế nhập khẩu cao, tiến hành các cuộc chiến tranh thương mại và chính sách ngoại giao đe dọa sử dụng vũ lực, cưỡng lại xu thế toàn cầu hóa.
Và nghiêm trọng hơn, khi đi ngược lại các giá trị tự do dân chủ và bản sắc quốc gia của người nhập cư, nước Mỹ sẽ đánh mất sức mạnh do sự đa dạng mang lại.
Đến giờ, tôi thấy nên nhìn nhận đất nước này qua hai ống kính: nước Mỹ và Hợp chúng quốc Hoa Kỳ. Hợp chúng quốc Hoa Kỳ là một quốc gia có chủ quyền, có những quyền lợi vĩnh viễn, đang tiến hành cuộc chiến chống khủng bố. Và nếu cần, Hợp chúng quốc Hoa Kỳ sẽ giẫm đạp lên những người vô tội trên đường đi của mình, dù ở trong nước hay nước ngoài, để giành chiến thắng trong cuộc chiến ấy. Trong tiến trình này, người nào mới đến định cư ở đất nước này mà không có tiếng nói và tiền bạc thì thường sẽ bị biến thành một dạng tổn thất ngoài dự kiến.
Trong khi đó, nước Mỹ có tất cả những gì mà chị và tôi đã mơ ước: sự minh bạch, tự do, dân chủ, cơ hội, thủ tục tố tụng công bằng, fair play và những hứa hẹn là chúng ta sẽ phát triển được ở đất nước ấy. Nước Mỹ là nơi chúng ta lao động vất vả và được tôn trọng vì điều đó.
Hai đất nước này tồn tại trong một vũ điệu phức tạp. Vào thời kỳ tươi đẹp, nước Mỹ vượt lên. Đến thời kỳ tồi tệ, nước Mỹ bị lãng quên và Hợp chúng quốc Hoa Kỳ khiêu vũ một mình. Những ngày này, tôi e rằng làm một người nhập cư yêu nước thì phải yêu những lý tưởng của nước Mỹ bất chấp những gì Hợp chúng quốc Hoa Kỳ đang tiến hành nhân danh an ninh cho người dân.
Mặc dù tôi hiểu lôgich của lợi ích vĩnh viễn, nhưng nếu nước Mỹ bị phá hủy trong quá trình bảo vệ những lợi ích ấy, thì được lợi gì? Và theo tôi thì lòng yêu nước duy nhất đúng là một lòng yêu nước văn minh. Yêu nước mù quáng luôn dẫn đến những kết cục đẫm máu. Yêu nước là dám đặt câu hỏi. Quyền con người có nên bị xâm phạm nhân danh bảo vệ an ninh? Có thực sự lợi ích của đất nước này là bôi nhọ các cộng đồng thiểu số và những người mới nhập cư? 

Anh chị thân mến, tôi hy vọng là tôi đã không làm anh chị quá sợ. Nhưng tình thế đòi hỏi phải trung thực. Để đến được bờ biển nước Mỹ những ngày này sẽ khó khăn hơn nhiều, những hứa hẹn sẽ ít hơn.
Tôi vẫn muốn anh chị thực hiện hành trình khó khăn này, nhưng anh chị phải chuẩn bị sẵn sàng cho những thách thức trước mắt. Và tôi sẽ bật mí cho anh chị biết về giấc mơ Mỹ mà anh chị đã từng ấp ủ: chính anh chị là người phải khôi phục giấc mơ ấy. Không có anh chị mơ giấc mơ Mỹ thì đất nước này gặp mối nguy là sẽ già nua đi. Không có sức lực của anh chị thì chúng tôi sẽ yếu đi. Dù cho chúng tôi chưa biết nhưng chúng tôi thực sự cần tái sinh trong mắt của anh chị.
Vậy Giấc mơ Mỹ còn không? Không hẳn anh chị ạ. Giấc mơ ấy không thể còn một khi không có anh chị ngồi cùng bàn, khi sự thịnh vượng không dành cho anh chị , khi anh chị không có chỗ ở đây.
==========================


Andrew Lam hiện là chủ biên của New America Media, San Francisco. Anh là tác giả của cuốn “Birds of Paradise Lost”, tuyển tập truyện ngắn về người tỵ nạn Việt Nam tại thành phố San Francisco; cuốn “East Eats West: Writing in Two Hemispheres”, tuyển tập các bài viết về quan hệ Đông – Tây và hồi ký “Perfume Dreams: Reflections on the Vietnamese Diaspora”. Andrew Lam Twitter: www.twitter.com/andrewqlam

***


Bản dịch này là bản dịch của tổ chức Our1world gởi cho Việt Báo với sự đồng ý của tác giả dựa theo bài đăng trên Báo điện tử The Hufftington Post

Thứ Ba, 28 tháng 3, 2017

KHOA VŨ
WESTMINSTER (NV) – Cách đây hơn một tuần, khi công ty cung cấp công nghệ giáo dục Ayotree phát hành miễn phí trò chơi ‘Moses Người Chiến Sĩ Tự Do’ (Moses the Freedom Fighter) trên Android và iOS, đồng thời công bố sẽ lấy toàn bộ tiền quảng cáo thu được trên trò chơi này tặng cho người tỵ nạn Syria, báo chí đã nhắc nhiều đến cái tên Khoa Vũ, một trong hai sáng lập viên của Ayotree.

Tiền thu được từ trò chơi “Moses Người Chiến Sĩ Tự Do” do công ty Ayotree thực hiện, vốn do hai anh em Khoa và Chính Vũ sáng lập, sẽ được gửi tới tổ chức Oxfarm America’s Syria and refugee fund ở Massachusetts.

Ayotree nay sẽ tặng tất cả số tiền quảng cáo có được cũng như tiền hiến tặng qua app này tới Oxfarm America. Tới nay, số tiền Oxfarm America nhận được là hơn $1,100, theo cơ quan này.

Một bản thông cáo của Oxfarm America cho hay họ vui mừng khi được Ayotree chọn để tài trợ. Hai anh em Vũ dự trù sẽ gửi được $100,000 về cho Oxfarm America tới Ngày Tị Nạn Thế Giới (World Refugee Day), vốn là ngày 20 Tháng Sáu tới đây.

Năm nay 34 tuổi, Khoa là thế hệ thứ hai của người Việt tị nạn, và là “con dân” của Little Saigon, vì anh sinh ra và lớn lên ở quận Cam.

Buổi chiều hôm ấy, khi cùng mẹ là bà Trần Thị Kính đến thăm báo Người Việt, Khoa tâm sự rằng anh mang tâm trạng người trở về chốn xuất thân.

Khoa cho biết mình học trung học đệ nhất cấp ở McGavin Intermediate School, vào La Quinta High School khi lên trung học, và khoe “biết hết những tiệm phở quanh đây…” như những “người Bolsa thứ thiệt”.

Lớn lên nữa, Khoa vào đại học UC Berkeley, chọn ngành làm phim, rồi sau khi ra trường, theo Chính Vũ, ông anh ruột lớn hơn mình mười tuổi, “chuyên làm trong ngành công nghệ thông tin”, đi đến các nước Đông Nam Á để “vừa theo đuổi lý tưởng, vừa tạo dựng sự nghiệp.”

* Từ Ayotree

Lý tưởng và sự nghiệp ấy, sau mười năm lăn lóc ở những nơi đèo heo hút gió của Việt Nam, Cambodia, đã tích tụ thành Ayotree, công ty cung cấp công nghệ giáo dục, mà theo Khoa, hiện phục vụ hàng ngàn những trường dạy sinh ngữ lớn nhỏ trên khắp Châu Á, Châu Âu, Bắc Mỹ và Nam Mỹ. Vẫn theo Khoa, công ty này mang đến cho hai anh em họ Vũ lợi nhuận “hơn $1.5 triệu một năm.”

Ayotree (www.ayotree.com) là một hệ thống quản lý trường học trực tuyến, phục vụ những người muốn mở trường, nhất là trường dạy sinh ngữ.

“Phần mềm của Ayotree giúp trường học quản lý những việc quan trọng, như mở lớp học trực tuyến, soạn bài, theo dõi tiến trình của thày cô, cho học sinh ghi danh, thu tiền học phí… Nói chung là giúp những ngôi trường, nhất là những ngôi trường tí hon tiết kiệm thời gian và tiền bạc.” Khoa giải thích.

Nói về những ngày đầu tiên đến Cambodia lập nghiệp, vì “Cambodia là nơi dễ vào”, Khoa hồi tưởng.

“Đến đó chúng tôi mới thấy là trí thông minh không phải chỉ có ở nơi giàu, mà đất nước nào cũng có người thông minh. Nhưng ở một nơi chưa phát triển, thì chỉ cần mang đến đó một ít công nghệ, cũng giúp người ta học hỏi được nhiều.”

Mắt Khoa sáng lên khi nói về những người hiếu học anh đã gặp ở các đất nước đang phát triển.

“Càng nghèo thì người ta càng ham học. Ở Mỹ, chúng ta xem mọi thứ là đương nhiên, nhưng ở nơi hoang sơ, chưa ai được sờ vào internet, thì người khao khát được biết nó. Chẳng bao lâu chúng tôi thấy ngay cách giúp họ hay nhất là giáo dục. Muốn giảng dạy thì phải có trường học. Nhưng có được một ngôi trường không phải dễ. Vì thế chúng tôi muốn tạo điều kiện để bất cứ ai cũng có thể mở, và cai quản được ngôi trường của mình. Với hệ thống Ayotree, dù với chỉ một vài thày cô, người dùng vẫn có thể mở được một lớp học trực tuyến. Hệ thống quản lý của Ayotree giúp cả những ngôi trường lớn có đầy đủ phòng ốc, nhưng mở được lớp học trực tuyến là điểm mạnh nhất của Ayotree, vì nó giúp người muốn dạy mở được những trường ở vùng xa xôi, phục vụ giới nghèo.”

Nhìn lại quãng đường đã đi, Khoa tâm sự là từ mười năm qua, anh “chưa bao giờ nhìn lại.”

“Với tôi, điều quan trọng là phải rời nhà, ra khỏi quỹ đạo an toàn của mình. Dù đến Mexico, Việt Nam, hay sang Cambodia, đi đến đâu tâm trí mình cũng mở mang.”

“Thật đấy!” Khoa nói một cách chân thành. “Đời sống không phải chỉ có Snapchat hay chụp hình khoe những bữa ăn. Tôi muốn nói với bất cứ ai có vấn đề với con cái trưởng thành là khuyên họ hãy bỏ Snapchat qua một bên, đến Việt Nam hay bất cứ một nước nghèo nàn nào, để xem người dân ở đó người ta sống ra sao rồi sẽ tìm thấy điều mình cần làm.”

Trong khi Khoa nói chuyện, bà Trần Thị Kính, qua Mỹ năm 1980, nhìn con bằng đôi mắt biểu đồng tình lẫn yêu thương.

“Người ta hay hỏi tôi có vừa lòng với những điều hai anh em Khoa làm không. Với tôi thì quan điểm bắt con phải làm bác sĩ này kia giờ không còn hợp thời nữa. Làm gì cũng được miễn là nuôi sống được bản thân và phục vụ một mục đích nào đó.” Bà Kính nói.

Ngoài lý tưởng mang kiến thức đến những nơi thôn dã, Ayotree dường như cũng là phương tiện để hai anh em Khoa gắn liền hơn với quê mẹ.

Điều này giải thích tại sao Công ty Ayotree hiện có ba địa điểm. Ngoài văn phòng chính chuyên lo phát triển thương mại ở Pasadena, California, Ayotree có các nhóm chuyên viên công nghệ làm việc ở Sài Gòn và ở Cambodia.

“Với kỹ thuật thời nay, chúng tôi làm việc với nhau hàng ngày qua Skype, và mỗi khi có thêm người dùng Ayotree để mở trường, ai cũng đều thêm hứng khởi.” Khoa chia sẻ.

Ngoài hệ thống cung cấp công nghệ giáo dục, Ayotree còn có dịch vụ tư vấn thông tin công nghệ, và đang phát triển qua những lãnh vực khác như thiết kế trò chơi, chẳng hạn như trò chơi Moses the Freedom Fighter, vừa được phát hành.

* Đến Moses the Freedom Fighter

Moses the Freedom Fighter (www.freemoses.org) là một trò chơi bẩy cấp, qua đó người sử dụng có cơ hội thách thức khả năng ứng biến của mình, trong vai Mosses, người đã vượt qua mọi trở ngại để đưa dân mình thoát ách nô lệ của Ai Cập, đến đất tự do.



Được hỏi tại sao lại chọn Moses, một nhân vật trong kinh thánh mà chưa hẳn ai cũng biết, Khoa giải thích “Từ bộ phim kinh điển ‘The Ten Commandments,’ cho đến những tác phẩm mới của Hollywood như ‘Exodus: Gods and Kings,’ ‘Noah’ là những câu chuyện lâu đời không bao giờ mất đi sức hấp dẫn, như câu chuyện của những người tị nạn trước đây, như tất cả chúng ta.”

“Việc phát hành ‘Moses the Freedom Fighter’ là tuyên bố của chúng tôi, dùng ngôn ngữ của máy tính làm tiếng nói, chống lại phân biệt chủng tộc, nô lệ, áp bức, và ủng hộ tự do cho mọi người.” Hai anh em nhà họ Vũ từng bày tỏ tâm tư trong thông cáo báo chí khi phát hành trò chơi Moses the Freedom Fighter.

“Mẹ tôi giờ đây kể lại chuyện cũ, hay nói về cảm giác hạnh phúc sau khi thoát khỏi Việt Nam, rời trại tị nạn và được vào Mỹ, nhưng thật ra hồi đó chúng tôi khổ lắm. Mười lăm người ở chen chúc trong một gian nhà hai phòng ngủ, hai phòng tắm.” Khoa thổ lộ.

“Mà hồi nhỏ tôi không hề biết là mình nghèo cho đến khi đi học, được cha mẹ cho vào đội bơi. Ra khỏi khu Little Saigon, thấy bạn bè có phòng ngủ riêng, tôi mới thấy là nhà mình kỳ quá.

Trời! Bảy người cùng ở chung một phòng. Mình nghèo thật!” Khoa cho biết đã nhận ra điều ấy lúc mình chín tuổi.

Nhưng nghèo, với Khoa không phải là một điều xấu.

“Gia đình nghèo, nhưng đó là nguồn gốc của tôi. Nói thẳng ra đó (cái nghèo) là chốn xuất thân của nhiều người tị nạn chúng ta. Từ cái nghèo đó mà tôi biết biết ơn cuộc đời. Gia đình tôi nghèo thế, nhưng tôi vẫn có thể bình đẳng cạnh tranh với mọi người ở đây.” Khoa lập luận.

Với tâm tư này, Ayotree, Moses the Freedom Fighter, và có lẽ nhiều dự án sau này nữa của Khoa và người anh ruột sẽ mãi là những ước muốn trả ơn đời, mang thương yêu và kiến thức đến khắp nơi.

———-

Liên lạc tác giả: hagiang@nguoi-viet.com

Được tạo bởi Blogger.

Ads 468x60px

Followers

Featured Posts

Blog Archive

Blog Archive

Tuần Báo

Tuần Báo

RAO VẶT - Tìm Thợ

Pages

Unordered List

Hạng Mục Thương Mại

Restaurant

Sample Text

Tin Nổi Bật

Popular Posts

Recent Posts